IMHEN
Giới thiệu / Thành tựu nghiên cứu
Thành tựu nghiên cứu Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
26/07/2015

Thành tựu nghiên cứu Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

I. Khoa học công nghệ:

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Viện KTTVBĐKH) là viện nghiên cứu cơ bản trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về khí tượng, khí hậu, biến đổi khí hậu, khí tượng nông nghiệp, thủy văn, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn biển và môi trường; đào tạo sau đại học về khí tượng, thủy văn, môi trường và biến đổi khí hậu.

Từ khi thành lập đến nay, Viện KTTVBĐKH đã thực hiện nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng quy trình, quy phạm, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa v.v. Các hoạt động khoa học công nghệ của Viện KTTVBĐKH được triển khai thực hiện ở cả 3 cấp: сấp Nhà nước, cấp Bộ (Tổng cục) và cấp Cơ sở. Viện KTTVBĐKH cũng đã chủ trì nhiều đề tài thuộc các chương trình khoa học trọng điểm quốc gia, nhiều đề tài độc lập cấp nhà nước và hàng trăm đề tài cấp Bộ và cấp Cơ sở có ý nghĩa quan trọng phục vụ phát triển bền vững KT-XH đất nước.

Viện KTTVBĐKH đã đạt được một số kết quả nổi bật, góp phần phục vụ đắc lực cho các công trình trọng điểm, phục vụ phát triển KT-XH và phát triển ngành. Việc triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu đã góp phần quan trọng vào việc đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, chỉ đạo và quản lý nghiên cứu khoa học của các cán bộ khoa học, các cấp quản lý của Viện. Các thành tựu của Viện KTTVBĐKH qua các thời kỳ như sau:

1) Giai đoạn 1991-2005:

            Viện KTTVBĐKH đã thực hiện 12 đề tài NCKH cấp nhà nước, trong đó có 6 đề tài độc lập và 6 đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên và phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường giai đoạn 1991-1995, 1996-2000, 2001-2005. Các đề tài đã được thực hiện với kết quả tốt và xuất sắc, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển KT-XH bền vững, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường, quy hoạch vùng và phòng chống thiên tai. Các đề tài tiêu biểu như:

1. Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên nước trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền (KT-02-10);

2. Nghiên cứu cân bằng nước phục vụ phát triển KT-XH khu vực miền Trung, vùng Khu 4 cũ (KC-12-02);

3. Nghiên cứu, kiến nghị mạng lưới trạm monitoring Quốc gia, xây dựng quy trình hoạt động và trang thiết bị hoạt động cho trạm monitoring môi trường mẫu và các thiết bị MT (KT-02-12);

4. Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ô nhiễm dầu khí trên vùng biển Việt Nam và xây dựng các giải pháp kỹ thuật phòng chống ô nhiễm do dầu và các sản phẩm dầu gây ra (KT-03-21);

5. Nghiên cứu nguyên nhân hình thành các biện pháp phòng chống lũ quét;

6. Nguyên nhân, giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn hoang mạc hoá vùng Trung Trung Bộ (KC 07);

7. Tác động của ENSO đến thời tiết-khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội ở Việt Nam (Đề tài dộc lập cấp Nhà nước).

8. Điều tra, nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt, phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung (Đề tài dộc lập cấp Nhà nước);

9. Đánh giá khả năng phân lũ sông Đáy và sử dụng lại các khu chậm lũ và đề xuất các phương án khi gặp lũ lớn khẩn cấp (thuộc Chương trình: “Phòng chống lũ đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình);

10. Nghiên cứu áp dụng mô hình NWSRFS của Mỹ để dự báo, cảnh báo thử nghiệm áp dụng dự báo lũ sông Hồng- Thái Bình.

Viện KTTVBĐKH cũng đã thực hiện nhiều đề tài cấp bộ với các kết quả nổi bật sau đây:

1. Thời kỳ 1991- 1995 đã thực hiện và nghiệm thu kết quả và đưa vào ứng dụng 24 đề tài cấp Bộ.

2. Thời kỳ 1996 - 2000 đã nghiệm thu 23 đề tài NCKH, 6 đề tài nghiên cứu cơ bản và 5 tiến bộ kỹ thuật.

3. Thời kỳ 2001-2005 đã nghiệm thu 20 và tiếp tục thực hiện 13 đề tài cấp bộ, 8 đề tài nghiên cứu cơ bản.

2) Giai đoạn từ 2006 -2009:

            Các đề tài NCKH của Viện KTTVBĐKH trong giai đoạn này có tính ứng dụng cao và tập trung chủ yếu vào vấn đề phòng tránh thiên tai và biến đổi khí hậu như xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng; xây dựng các bản đồ hạn hán; bản đồ nguy cơ sóng thần, phân vùng lũ quét v.v.... Các đề tài này đều đạt kết quả xuất sắc, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Một số chương trình và đề tài nổi bật là:

1. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;

2. Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam;

3. Đề xuất quy định lại cấp báo động lũ trên các sông chính của Việt Nam (2006-2009);

4. Xây dựng bản đồ hạn hán, thiếu nước sinh hoạt ở Nam Trung Bộ và Tây nguyên (2006-2009);

5. Xây dựng bản đồ nguy cơ sóng thần cho các vùng bờ biển Việt Nam (2006-2009);

6. Điều tra, khảo sát, phân vùng và cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt Nam (2007-2010);

7. Nghiên cứu xây dựng, đề xuất quy trình vận hành điều tiết nước hệ thống hồ chứa trên sông Hương (2008-2009);

8. Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm hệ thống trạm khí tượng tự động (2008-2009).

3) Giai đoạn 2011 - 2015:

Viện KTTVBĐKH tiếp tục chủ trì thực hiện thành công nhiều đề tài, dự án, nhiệm vụ thuộc các chương trình trọng điểm Nhà nước các cấp; 16 đề tài cấp Bộ; 07 dự án chuyên môn; 02 đề tài cấp tỉnh, thành phố, và các công tác nghiệp vụ,… Kết quả nghiên cứu của các đề tài và dự án đã và đang góp phần quan trọng trong việc quản lý, giám sát, đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước, cảnh báo lũ, ứng phó với BĐKH v.v... Một số chương trình và đề tài tiêu biểu trong giai đoạn này:

1. Trong khuôn khổ Chương trình Khoa học Công nghệ (KHCN) quốc gia phục vụ Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) giai đoạn 2011 - 2015, năm 2015 Viện đã hoàn thành các đề tài bao gồm:

(1) Đề tài “Nghiên cứu phát triển bộ chỉ số thích ứng với BĐKH phục vụ công tác quản lý nhà nước về BĐKH” (mã số BĐKH.16) đã xây dựng được cơ sở khoa học, phương pháp luận và áp dụng tính toán thử nghiệm thành công bộ chỉ số thích ứng với BĐKH để đánh giá hiệu quả của các hoạt động thích ứng tại tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Cần Thơ. Bộ chỉ số giúp các nhà quản lý và các nhà hoạch định chiến lược có 1 công cụ xác định được hiệu quả của các hành động thích ứng đang và đã đưa ra để từ đó có thể đưa ra các quyết sách, định hướng và chiến lược xây dựng và thực hiện hiệu quả hoạt động thích ứng. Bộ chỉ số cũng có tính khả thi cao do hầu hết các số liệu đầu vào đều được thống kê, báo cáo hàng năm trong niên giám thống kê của địa phương và vì vậy có thể thực hiện đánh giá hiệu quả thích ứng định kỳ để đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực phù hợp nhất cho thích ứng. Ngoài ra, bảng tính có thể tự động cập nhật khi thay đổi các số liệu đầu vào, dễ dàng chuyển giao cho các tỉnh, thành phố.

(2) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng atlat khí hậu và Việt Nam” (mã số BĐKH.43) đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về khí hậu, BĐKH (bao gồm các bản đồ) với các thời kỳ chuẩn khác nhau phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phòng tránh thiên tai, ứng phó với BĐKH và có tính so sánh với các sản phẩm tương tự ở ngoài nước về thời kỳ chuẩn, yếu tố thể hiện, phương pháp tính toán, xây dựng bản đồ. Tập “Atlas khí hậu và BĐKH Việt Nam” được xuất bản dưới dạng bản cứng ở tỷ lệ 1:3.000.000 và bản điện tử được xây dựng bằng phần mềm Arc GIS ở tỷ lệ 1:1.000.000 dễ dàng trong công tác khai thác, sử dụng.

(3) Đề tài “Nghiên đề luận cứ khoa học cập nhật kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam” đã đưa ra được luận cứ khoa học và thực tiễn của việc cập nhật kịch bản cho Việt Nam và đề xuất phương án cập nhật kịch bản cho Việt Nam bằng phương pháp chi tiết hóa động lực mô phỏng. Áp dụng phương pháp tổ hợp trung bình của 4 mô hình (10 phương án) bao gồm 6 phương án của CCAM, 1 phương án clWRF, 1 phương án của PRECIS và 2 phương án của mô hình REGCM, đề tài đã dự tính được mức độ thay đổi nhiệt độ, lượng mưa cho Việt Nam trong thế kỷ 21. Kịch bản NBD cho Việt Nam được dự tính cho các kịch bản KNK RCP 4.5 và RCP 8.5 theo phương pháp của IPCC, 2013 trên cơ sở các mô hình khí quyển đại dương toàn cầu và tỉ lệ phân bố không gian của các thành phần đóng góp vào mực NBD do băng tan và lưu trữ nước trên lục địa theo nghiên cứu mới nhất trên thế giới.

2. Đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình trọng điểm cấp Nhà nước “ Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ”, Mã số KC.08/11-15

            (1) Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển mô hình công nghệ tích hợp tiên tiến có tận thu và sử dụng năng lượng tái tạo để xử lý hiệu quả, bền vững nguồn thải hỗn hợp rắn lỏng từ các lò giết mổ tập trung” – KC.08.31 đã nghiên cứu, áp dụng thực tế thành công hệ thống xử lý chất thải cho lò giết mổ bò với công suất 20m3/ngày. Đây là hệ thống dễ vận hành, tiết kiệm năng lượng, chi phí đầu tư và duy trì hợp lý giúp các cơ sở giết mổ có khả năng vận hành và sử dụng kết quả của đề tài ngay cả khi không có dự án, ngân sách từ nhà nước. Kết quả nghiên cứu của đề tài tương đối mới không chỉ trong nước mà cả trên thế giới nên có tiềm năng liên kết, hợp tác quốc tế để tiếp tục nghiên cứu nâng cấp và triển khai áp dụng rộng rãi.

(2) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng” – KC.08.17 đã xây dựng và vận hành thử nghiệm thành công hệ thống giám sát hạn hán thời gian thực bằng công nghệ viễn thám cho Việt Nam. Hệ thống giám sát này đang được vận hành tự động, các bản tin liên tiếp được cập nhật sau 2 ngày. Người dùng có thể dễ dàng khai thác thông tin giám sát hạn hán (ngày, tuần, tháng, mùa, năm) và tải dữ liệu tại một điểm bất kỳ thông qua khai báo kinh độ và vĩ độ của điểm quan tâm từ trang web http://dubaokhihau.vn. Hệ thống giám sát hạn hán đã được chuyển giao cho Viện KTTVBĐKH, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, 9 Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực nhằm phục vụ công tác nghiệp vụ giám sát và cảnh báo hạn hán. Qua kết quả thử nghiệm cho thấy, hệ thống phản ánh khách quan điều kiện hạn hán ở các địa phương, đưa ra các cảnh báo kịp thời và chính xác. Ngoài ra Đề tài đã xây dựng thành công hệ thống mô hình thống kê và động lực dự báo hạn hán, kết quả thử nghiệm bước đầu cho thấy hệ thống mô hình có thể đưa ra các cảnh báo và dự báo với thời hạn trước từ 1 đến 3 tháng khá chính xác. Các tháng chuyển mùa, hệ thống mô hình cũng đưa ra được các kết quả dự báo khá phù hợp. Mặc dù còn một số hạn chế, tuy nhiên, đây là hệ thống mô hình động lực đầu tiên ở Việt Nam được đưa vào thử nghiệm.

Ngoài ra, Viện đã, đang và tiếp tục thực hiện tốt công tác cung cấp các bản tin dự báo, cảnh báo, thông báo về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu cụ thể: các bản tin dự báo bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn và thông tin thời tiết hàng ngày; các bản tin dự báo lũ và mực nước trên hệ thống sông Hồng - Thái Bình; các bản tin Thông báo và Dự báo khí hậu hàng tháng; các bản tin Thông báo Khí tượng nông nghiệp. Viện cũng sẽ tiếp tục duy trì tốt hoạt động của các trạm thực nghiệm và giám sát mạng lưới lắng đọng axit.

II. Đào tạo Nghiên cứu sinh:

Trong công tác đào tạo trình độ tiến sĩ, tính đến hết năm 2015, Viện KTTVBĐKH đã đào tạo thành công 43 tiến sĩ về các chuyên ngành Khí tượng và khí hậu học, Thủy văn học, Hải dương học, Quản lý tài nguyên và Môi trường. Hiện nay, Viện đang tiếp tục đào tạo 46 NCS cho các chuyên ngành trên và chuyên ngành BĐKH và Phát triển bền vững, góp phần không nhỏ trong việc kiện toàn đội ngũ cán bộ chất lượng cao và phát triển, nâng cao chất lượng cán bộ nghiên cứu, quản lý và giảng dạy trong và ngoài Bộ TNMT.

III. Hợp tác quốc tế:

Nhằm thu hút nguồn lực, kinh nghiệm trong NCKH, Viện KTTVBĐKH luôn chú trọng hoạt động hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ với các đối tác mới, phát triển hợp tác với các đối tác đã có. Năm 2015, Viện đón tiếp trên 30 đoàn công tác từ các tổ chức quốc tế đến để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm; phối hợp và hỗ trợ các đối tác quốc tế tổ chức các hội thảo chuyên môn về KTTV, môi trường và BĐKH, triển khai các hợp tác nghiên cứu với nhiều viện, trường và tổ chức quốc tế về các lĩnh vực nghiên cứu. Tiếp tục quản lý và thực hiện dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ BĐKH phù hợp với điều kiện quốc gia tại Việt Nam - NAMA” (GIZ tài trợ), “Dự án tăng cường năng lực thực hiện chiến lược quốc gia về BĐKH” (UNDP tài trợ). Viện KTTVBĐKH cũng đã tích cực phối hợp với các bên liên quan tham gia và hỗ trợ đoàn đàm phán về BĐKH tại COP21, chủ trì về kỹ thuật xây dựng “Báo cáo Dự kiến đóng góp quốc gia tự quyết định” (INDC) cho Việt Nam. Đặc biệt, cùng với gần 70 nhà khoa học có trình độ cao thực hiện trong hơn 2 năm, Viện KTTVBĐKH chủ trì và hoàn thành Báo cáo Đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với Biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam). Báo cáo SREX Việt Nam đã được đề cử trong 10 Sự kiện nổi bật năm 2015 của Bộ TNMT.