IMHEN
Thông báo / Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu
Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu Số 5 - 2018
Thứ tư, 24/10/2018

Danh mục các bài báo đăng trong Số 5 - 2018



DANH MỤC BÀI BÁO TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU SỐ 5-2018
 

Stt

Tên bài, tác giả

Trang

1

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG CÁC CHỈ SỐ LƯỢNG MƯA ẢNH HƯỞNG NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN ĐỂ CẢNH BÁO THIÊN TAI BÙN ĐÁ Ở MỘT SỐ KHU VỰC CỦA VIỆT NAM

Nguyễn Thanh Thủy(1), Nguyễn Sơn Hùng(2)
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
(2)CTI Engineering, Co. Ltd., Tokyo, Nhật Bản

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu các phương pháp cảnh báo khả năng xuất hiện thiên tai bùn đá được sử dụng ở Nhật Bản và nghiên cứu tính khả thi của phương pháp dùng các chỉ số lượng mưa ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn cho một số khu vực ở Việt Nam (khu vực Mai Châu - Hòa Bình, khu vực Mù Căng Chải - Yên Bái và khu vực Mường La - Sơn La). Kết quả tính toán cho thấy, khi áp dụng phương pháp này để cảnh báo cho khu vực Mai Châu có thể phát hiện được 75% số vụ trượt lở đất đã xảy ra trong quá khứ, cho khu vực Mù Căng Chải có thể cảnh báo được trận lũ quét xảy ra ngày 3/8/2017. Khả năng cảnh báo của phương pháp này cho vụ sạt lở đất tại khu vực Mường La xảy ra cùng ngày cũng đã được minh chứng. Phương pháp này có thể áp dụng dễ dàng ở các khu vực khác, nơi mà có đầy đủ số liệu mưa và số liệu thống kê liên quan đến thiên tai bùn đá.

Từ khóa: Thiên tai bùn đá, trượt lở đất, chỉ số lượng mưa ảnh hưởng, cảnh báo.

1

APPLY THE METHOD USING TWO SHORT AND LONG TERM ANTECEDENT PRECIPITATION INDICES FOR WARNING SEDIMENT DISASTER IN SOME AREAS OF VIETNAM

Nguyen Thanh Thuy(1), Nguyen Son Hung(2)
(1)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change
(2)CTI Engineering, Co. Ltd., Tokyo, Nhật Bản

Abstract: This paper introduces some methods used in Japan for warning sediment disasters and a feasibility study of the method using two short and long term antecedent precipitation indeces for some areas in Vietnam (Mai Chau area – Hoa Binh province, Mu Cang Chai area – Yen Bai province and Muong La area – Son La province). The results indicated that the model using this method could detect 75% land slides that occured in Mai Chau area. In addition, the model built for Mu Cang Chai area was verified to be able to predict the debris flow occured on August 3th 2017. The occurrence of the landslides in Muong La area on the same day also could be predicted if using the warning model. This demonstrated the effectiveness of the method for warning sediment disasters. The proposed method could be easily applied to other regions where the rainfall data and historical sediment disaster events are sufficiently recorded.

Keywords: Sediment disasters, antecedent precipitation index, warning system.

2

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC HỒ: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CHO HỒ TÂY, HÀ NỘI

Nguyễn Trâm Anh
Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích một số nghiên cứu trên thế giới sử dụng các số liệu giám sát hệ sinh thái dài hạn cho thấy, sự thay đổi khí hậu (lượng mưa và nhiệt độ) có thể có tác động đáng kể đến chất lượng nước mặt của hồ đô thị. Thay đổi chất lượng nước, mưa kéo dài, thời kỳ có nhiệt độ cao hoặc hạn hán có thể gây ra các điều kiện vượt quá ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái hồ, do đó, dẫn đến suy thoái chất lượng nước. Các vấn đề chất lượng nước thường hay xảy ra khi có thay đổi khí hậu là phú dưỡng, thiếu ô-xi, các vấn đề về vệ sinh, mặn hóa, các chất độc, gây đục và huyền phù. Nhằm đánh giá tác động của BĐKH đối với chất lượng nước Hồ Tây, Hà Nội, nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu các trường hợp tương tự và phương pháp kế thừa. Kết quả cho thấy, các vấn đề đó là sự gia tăng hiện tượng phú dưỡng, hàm lượng ô-xi hòa tan giảm, gia tăng ô nhiễm (ô nhiễm hữu cơ, độ đục, vi sinh vật, kim loại nặng, thuốc trừ sâu).

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, chất lượng nước, hồ đô thị.

11

CLIMATE CHANGE AND WATER QUALITY IN URBAN LAKE: ASSESSING IMPACTS OF CLIMATE CHANGE ON WATER QUALITY OF WESTLAKE, HA NOI

Nguyen Tram Anh
Center for Environment and Community Research.

Abstract: Some international research using data collected from long-term ecosystem monitoring and indicate that changes in climate change (presipitaion and temperature) can have a significant effect on the quality of surface water in urban lake. Changes in water quality during storms, rain and preriods of elevated air temperature can cause conditions that exceed thresholds of ecosystem tolerance and, thus lead to water quality degradation. These are some warter- quality problems in climate change: eutrophication, oxygen depletion, hygiene, salinization, toxicity, turbidity. Inheritance method and use – similar case method have been used to forecast the effect of climate change on the water quality of West Lake at the end of 21st century. The result shows that water quality degradations in West Lake will be faced including eutrophication, decrease disolvel oxygen and increase pollution (organic pollution, turbidity, microorganism, pesticide).

Keywords: Climate change, water quality, urban lake.

3

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG SINH KẾ DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI CÁC XÃ VEN BIỂN THUỘC HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

Bùi Sỹ Bách(1), Hoàng Thị Thu Hòa(1), Nguyễn Thị Xuân Thắng(2)
(1) Phân hiệu Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tại tỉnh Thanh Hóa
(2) Trường Đại học Thủy Lợi

Tóm tắt: Bài báo này trình bày kết quả ứng dụng bước đầu phương pháp đánh giá Chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index – LVI) của bảy thành phần chính: Hiện trạng sinh kế; dân số - xã hội; hỗ trợ cộng đồng; hiện trạng cung cấp thực phẩm; tiếp cận các tiện nghi; hiện trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng; và khí hậu ở ba xã ven biển Thạch Hải, Thạch Trị và Thạch Văn tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Các kết quả cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế là rõ nét nhưng các nguồn lực tại địa phương dường như chưa theo kịp được với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận đánh giá LVI có thể được dùng để giám sát diễn biến mức độ tổn thương sinh kế và có thể áp dụng ở các đơn vị hành chính khác như tại huyện, tỉnh…, giúp cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn trực quan, trên cơ sở đó đề xuất xây dựng các chính sách sinh kế bền vững.

Từ khóa: Sinh kế, Biến đổi khí hậu, Chỉ số tổn thương sinh kế.

20

STUDY ON LIVELIHOOD VULNERABILITY ASSESSMENT TO CLIMATE CHANGE IN COASTAL COMMUNES OF THACH HA DISTRICT, HA TINH PROVINCE

Bui Sy Bach(1), Hoang Thi Thu Hoa(1), Nguyen Thi Xuan Thang(2)
(1)Hanoi University of Natural Resources and Environment in Thanh Hoa Province
(2)Thuy Loi University

Abstract: This paper presents the initial results on applying the Livelihood Vulnerability Index (LVI) of seven key components, including livelihoods, socio-demographics, social networks, food, access to facilities, health and climate variability in Thach Hai, Thach Tri and Thach Van coastal communes in Thach Ha district, Ha Tinh province. The results show that the impact of climate change on livelihoods is obviously but local resources seem to have not kept pace with the socio-economic development. The LVI assessment approach can be used not only to monitor the livelihood vulnerability in communal area, which but also can be applied to other areas such as the district, provincial… levels. It helps the regulators and policymakers to have an intuitive view and propose the development of sustainable livelihood policies.
 
Keywords: Livelihoods, Climate Change, Livelihood Vulnerability Index- LVI.

4

ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA XOÁY THUẬN NHIỆT ĐỚI Ở TÂY BẮC THÁI BÌNH DƯƠNG, BIỂN ĐÔNG VÀ ĐỔ BỘ VÀO VIỆT NAM NĂM 2017

Vũ Văn Thăng, Trương Bá Kiên, Lã Thị Tuyết, Trần Thị Thảo, Trần Duy Thức, Lê Văn Tuân
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Bão và áp thấp nhiệt đới gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) thường hoạt động vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 12 trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và từ tháng 6 đến tháng 11 trên khu vực Biển Đông. Để cung cấp thông tin về mùa bão năm 2017 cho người sử dụng, bài báo này tổng kết lại tình hình hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, Biển Đông và đổ bộ vào Việt Nam. Đồng thời một số đặc trưng thống kê cũng được giới thiệu để đánh giá tần suất và cường độ hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới trong năm 2017.

Từ khóa: XTNĐ, bão đổ bộ.

27

ACTIVITIES OF TROPICAL CYCLONES IN NORTH-WESTERN PACIFIC AND EAST SEA IN 2017

Vu Van Thang, Truong Ba Kien, La Thi Tuyet, Tran Thi Thao, Tran Duy Thuc, Le Van Tuan
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: Typhoon and tropical depression (a.k.a. tropical cyclones) are usually active from May to December in the Northwestern Pacific and from June to November in the Vietnam’s East Sea. With the purpose of providing information about the 2017 tropical cyclone season for the users, this article summarizes the activities of tropical cyclones in the Northwestern Pacific Ocean, Vietnam’s East Sea and landed in Vietnam. In additional, the statistical analysis of the characteristics of TCs are also introduced to evaluate their frequency and intensity in 2017.

Keywords: Tropical cyclone, typhoon landfall.

5

KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CHỈ SỐ CHUẨN HÓA LƯỢNG MƯA (SPI) TRONG ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN KHÔ HẠN VÀ ẨM ƯỚT ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA Ở VÙNG CẦN THƠ - HẬU GIANG

Phan Thị Anh Thơ, Nguyễn Văn Hồng, Ngô Sỹ Giai
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Bài báo này giới thiệu những kết quả chủ yếu về nghiên cứu khả năng sử dụng chỉ số hạn khí tượng – chỉ số chuẩn hóa lượng mưa (SPI) trong đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện khô hạn và ẩm ướt đến năng suất lúa ở vùng nông nghiệp Cần Thơ – Hậu Giang. Các kết quả nhận được cho thấy: 1) Sự biến động của năng suất lúa trung bình của tỉnh, cũng như năng suất thời tiết của lúa trong vụ Đông xuân và vụ mùa có sự tương quan khá chặt chẽ với giá trị SPI; 2) Với số liệu lượng mưa hiện có, bằng chỉ số hạn khí tượng SPI cho 1 tháng (SPI-1) và 6 tháng (SPI-6), đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện khô hạn và ẩm ướt đối với sự sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của cây lúa trong vụ Đông xuân và vụ mùa ở vùng Cần Thơ – Hậu Giang; 3) Sử dụng SPI, các thông tin dự báo khí tượng thủy văn (KTTV), dự báo khí hậu cùng với sự phối hợp với các cơ quan KTTV, các cơ quan nông nghiệp từ tỉnh, thành phố và các huyện có thể xây dựng các kế hoạch phòng chống hạn hán và lũ lụt để chủ động công tác phòng chống thiên tai, nâng cao và ổn định năng suất lúa trong vụ Đông xuân và vụ mùa ở vùng này.

Từ khóa: Chỉ số chuẩn hóa lượng mưa (SPI), năng suất lúa, Cần Thơ, Hậu Giang.

36

POSSIBILITIES OF USE THE STANDARDIZED PRECIPITATION INDEX (SPI) IN ASSESSING INFLUENCE OF DRY AND WET CONDITIONS TO RICE CROP YIELD IN CAN THO AND HAU GIANG PROVINCES

Phan Thi Anh Tho(1), Nguyen Van Hong(1), Ngo Sy Giai(2)
(1)Sub - Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change
(2)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: This paper presents the main results of the research on the posibilities in using a meteorological drought index – the Standardized Precipitation Index (SPI) in the assessment of the effects of dry and wet conditions on rice yield in Can Tho and Hau Giang provinces. The results showed that: 1) The variations in provincial average yield, as well as the weather-induced yield of rice in the Winter-spring and Summer rice crops, are closely correlated with the SPI; 2) With the existing rainfall data, using SPI-1 and SPI-6 it can fully evaluate the effects of drought and wet conditions to growth, development and productivity of rice in the Winter-spring and Summer rice crops in Can Tho-Hau Giang area; 3) Use of SPI, as well as hydrometeorological forecasts, climate forecasts, and close coordination with hydrometeorological experts, agricultural agencies from provinces, cities and counties are possible to develop flood and drought prevention plans to actively prevent natural disasters, improve and stabilize rice yields in two mentioned rice crop seasons.

Keywords: SPI, yield of rice, Can Tho, Hau Giang.

6

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH CÂY XANH KHU VỰC NỘI THÀNH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2013 – 2016

Khương Văn Hải(1), Trần Hương Trang(2), Nguyễn Xuân Hiển(1),
 Vũ Văn Doanh(2)
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu
(2)Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo này sử dụng ảnh vệ tinh Landsat 8 và phương pháp tính chỉ số thực vật (Normalized Difference Vegetation Index - NDVI) kết hợp với phân tích hồi quy đa biến để nghiên cứu, đánh giá biến động diện tích cây xanh tại khu vực nội thành Hà Nội giai đoạn 2013-2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy, diện tích cây xanh giai đoạn từ năm 2013 – 2016 khá ổn định và có xu hướng tăng nhẹ (khoảng 0,8 %). Tỷ lệ phủ xanh trung bình tại khu vực nghiên cứu từ 2013 đến 2016 tương đối cao (khoảng 51%). Mặc dù tỷ lệ phủ xanh tăng nhưng mật độ cây xanh trên đầu người tại khu vực nghiên cứu lại giảm khoảng xấp xỉ 4,4% do hai nguyên nhân chính là quá trình đô thị hóa các quận ven đô và dân số tại khu vực tăng mạnh trong cùng thời gian.

Từ khóa: GIS, diện tích cây xanh, nội thành Hà Nội.

43

APPLICATION OF REMOTE SENSING TECHNOLOGY AND GIS STUDYING THE CHANGES IN TREE AREA IN INNER HANOI FOR THE PERIOD 2013 – 2016

Khuong Van Hai(1), Tran Huong Trang(2), Nguyen Xuan Hien(1),
 Vu Van Doanh(2)
(1)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change
(2)Ha Noi University of Natural Resources and Environment

Abstracts: This paper utilizes Landsat 8 satellite images, NDVI calculations combined with multivariate regression analysis to study the variation of green areas in inner Ha Noi for the period of 2013 - 2016. The results show that the green area in the period is stable and increased slightly (approximately 0.8%). The average green coverage in the study area from 2013 to 2016 was relatively high (about 51%). Despite the increased green area cover, the per capita density of perennials in the study area declined by approximately 4.4%. Two major causes for the decline are the urbanization of the peri-urban districts and population growth in the study area.

Keywords: GIS, tree areas, Ha Noi inner city.

7

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÌNH HÌNH NGẬP LỤT Ở THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Kim Tuyên, Đặng Quang Thịnh, Phạm Bảo Long
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Một trong những tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) là làm gia tăng mức độ ngập lụt gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Các đô thị vốn là nơi tập trung dân cư đông đúc đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị nên khả năng dễ bị tổn thương và thiệt hại về kinh tế, xã hội, môi trường, cơ sở hạ tầng... sẽ lớn hơn. Do đó, việc đánh giá tác động của BĐKH đến ngập lụt ở các đô thị là hết sức cần thiết, là cơ sở giúp cho các nhà quản lý đưa ra được những quyết định phù hợp trong đề xuất giải pháp thích ứng với BĐKH. Bài báo này trình bày một số kết quả đánh giá tác động của BĐKH đến ngập lụt ở thành phố Nam Định sử dụng các mô hình MIKE URBAN, MIKE21 và MIKE FLOOD. Các kết quả ngập lụt được thực hiện ứng với mưa thiết kế 10% cho thời kỳ nền 1986-2005 và các thời kỳ 2016-2035, 2046-2065 và 2080-2099 của các kịch bản RCP4.5 và RCP8.5. Kết quả cho thấy, mức độ ngập lụt trong các thời kỳ tương lai theo 2 kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 đều tăng so với thời kỳ nền, trong đó, kịch bản RCP8.5 tăng mạnh hơn trong hai thời kỳ 2046-2065 và 2080-2099.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, ngập lụt, thành phố Nam Định.

51

59

IMPACTS OF CLIMATE CHANGE ON INUNDATION IN NAM DINH CITY

Nguyen Van Dai, Nguyen Kim Tuyen, Dang Quang Thinh, Pham Bao Long
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change

Abstract: One of the impacts of climate change is the increase in flooding level that causes serious damages to people and property, especially in urban areas. Cities, where having high density of population and concentrating important activities of economy as well as the centers of politic, culture and economic, are more prone to be vulnerable to society, economic, environment, infrastructures, to name but a few; therefore, it is necessary to assess the impacts of climate change on urban flooding. The assessment will be the base that supports managers to make decisions related to climate change adaptation and helps planners to have a clear overview about the impacts of climate change on urban areas. This article shows results of the assessment of climate change impacts on flooding in Nam Dinh city. By using MIKE URBAN, MIKE21, and MIKE FLOOD models, the study created flooding maps of 10% design rainfall for the baseline period (1986-2005) and for three future periods (2016-2035, 2046-2065 and 2080-2099) under two climate change scenarios (RCP4.5 and RCP8.5). The results show that the flooding level in both RCP4.5 and RCP8.5 scenarios will increase and be higher than that in baseline scenario, of which the level of RCP8.5 scenario will cause larger urban flooding in the last two periods.

Key words: Climate change, Inundation, Nam Dinh city.

8

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HEC-RAS MÔ PHỎNG NGẬP LỤT CHO LƯU VỰC SÔNG LA TRÊN CƠ SỞ KẾT NỐI THỦY ĐỘNG LỰC 1-2 CHIỀU

Nguyễn Anh Ngọc, Hoàng Văn Đại
Trung Tâm Tư Vấn, Dịch vụ Khí Tượng Thủy Văn Và Biến đổi khí hậu
Viện Khí Tượng Thủy Văn Và Môi Trường

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu một số kết quả tính toán, mô phỏng ngập lụt trên lưu vực sông La sử dụng mô hình Hec-Ras trên cơ sở kết thủy động lực 1-2 chiều. Vùng 1 chiều được kết nối với vùng 2 chiều thông qua dạng kết nối bên. Số liệu đầu vào cho mô hình là số liệu về mực nước tại trạm Chợ Tràng và lưu lượng dòng chảy tại trạm Sơn Diệm, trạm Hòa Duyệt. Bộ thông số mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định với số liệu thực đo mực nước trong hai trận lũ lớn tháng 10 năm 2010 và 2011 tại trạm Linh Cảm. Kết quả đánh giá sai số bằng chỉ số Nash đều cho giá trị lớn hơn 0,9 chứng tỏ khả năng ứng dụng của mô hình trong mô phỏng ngập lụt. Kết quả tính toán bằng mô hình cũng chỉ ra rằng, khu vực ngập nặng nhất là khu vực bờ phải sông La với mức độ ngập trung bình là 2m, khu vực ngập ít nhất là khu vực bờ trái sông Ngàn Phố với mức độ ngập là 0,5m.

Từ khóa: Ngập lụt, kết nối thủy động lực 1-2 chiều, mô hình Hec-Ras, lưu vực sông La.

 

APPLICATION OF HEC-RAS MODEL SIMULATING FLOOD IN LA RIVER BASIN BASING ON THE CONNECTION OF HYDRONAMIC 1-2D

Nguyen Anh Ngoc, Hoang Van Đai
Centre for HydroMet and Climate change Consultancy

Abstract: This article presents some results of calculations, simulation of flooding in the La river basin using the Hec-Ras model on the basis of hydrodynamics. 1D area are connected to 2D area through the side connection. Input data for the model are data on water levels and flow rates collected from hydro-meteorological stations in the basin. Parameters of model was calibrated and verified with observation water level data in two major floods in October 2010 and 2011 at Linh Cam station. The results of the error estimation using the Nash index for values greater than 0.9 indicate the applicability of the model to flood simulation. The model results also show that the heaviest flooded area is the right bank of the La river with an average flood level of 2m, flooded areas are at least the left bank of the Ngan Pho river with inundation is 0.5m.

Keywords: Flood, connect hydrodynamic 1-2D, Hec-Ras model, La river basin.

9

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP GLUE ĐÁNH GIÁ BẤT ĐỊNH CHO BỘ THÔNG SỐ VÀ DỮ LIỆU MƯA ĐẦU VÀO MÔ HÌNH SURR TRONG MÔ PHỎNG KHU GIỮA SÔNG LÔ

Lê Thị Kim Ngân(1), Nguyễn Hoàng Minh(2)
(1) Trung tâm Tư vấn, Dịch vụ Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
(2) Khoa Kỹ thuật Dân dụng và Môi trường, trường ĐH Sejong, Seoul, Hàn Quốc

Tóm tắt: Trong quá trình sử dụng các mô hình mưa - dòng chảy luôn tồn tại những sai số nhất định do các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan. Vì vậy, việc đánh giá độ bất định của của bộ thông số mô hình và số liệu đầu vào mô hình đóng vai trò rất quan trọng. Nghiên cứu ngày sẽ giới thiệu phương pháp ước lượng bất định GLUE để đánh giá cho bộ thông số mô hình dòng chảy SURR và dữ liệu mưa đầu vào trong mô phỏng lưu vực khu giữa sông Lô. Mục tiêu của báo cáo nhằm tìm ra bộ thông số phù hợp cho việc mô phỏng dòng chảy trên lưu vực khu giữa sông Lô. Kết quả đánh giá bất định cho phép tăng độ chính xác của quá trình dự báo dòng chảy.

Từ khóa: Đánh giá bất định, GLUE, mô hình SURR, sông Lô.

71

APPLICATION OF GLUE METHOD ASSESSING THE UNCERTAINTY OF RAINFALL - RUNOFF DATA FOR SURR MODEL IN SIMULATING FLOW OF LO RIVER

Le Thi Kim Ngan (1), Nguyen Hoang Minh (2)
(1) Centre for HydroMet and Climate change Consultancy
(2) Civil and Environmental Engineering, Sejong University, Seoul, Korea

Abstract: In the use of rain-flow models, there are always certain errors due to subjective as well as objective reasons.Therefore, it is important to evaluate the uncertainty of the set of model parameters and the model input data. The study will introduce the uncertainty estimation GLUE to evaluate the SURR flow model parameters and rainfall input data in the simulation of the basin area between the Lo River. The purpose of the report is to find the appropriate set of parameters for simulation of flow in the basin of the Lo River. Uncertainty assessment results in increased accuracy of flow forecasting.

Keywords: Uncertainty assessment, GLUE, SURR model, Lo river.

10

DỰ BÁO DIỄN BIẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ GIAI ĐOẠN 2017-2022

Nguyễn Văn Đản(1), Nguyễn Thị Hạ(2), Đặng Trần Trung(2), Văn Thùy Linh(3)(1)Hội Địa chất thủy văn Việt Nam
(2)Trung tâm Dự báo và Cảnh báo tài nguyên nước
(3)Trường Đại học Khoa học tự nhiên

Tóm tắt: Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có diện tích gần 17.000 km2 nằm trên địa phận của 12 tỉnh và thành phố phía Bắc là vùng kinh tế trọng điểm, dân cư đông đúc có nhu cầu về nước rất cao nên đang được khai thác mạnh mẽ phục vụ các nhu cầu khác nhau. Đồng bằng Bắc Bộ được hình thành từ các trầm tích Đệ tứ bở rời dày từ khoảng 10 m ở vùng rìa đến trên 100 m ở vùng ven biển. Do tính phân nhịp, các trầm tích Đệ tứ phân chia thành 2 tầng chứa nước lỗ hổng: tầng chứa nước Holocen (qh) không áp ở bên trên và tầng chứa nước Pleistocen (qp) có áp lực bên dưới. Tầng qh cung cấp nước quy mô nhỏ, phân tán cho vùng nông thôn; tầng qp cung cấp nước tập trung cho các đô thị, khu công nghiệp. Để kiểm soát và dự báo sự biến động tài nguyên nước dưới đất, từ những năm 90 của thế kỷ trước mạng lưới quan trắc Quốc gia đã bắt đầu xây dựng. Đến nay có 12 trạm, 104 điểm với 198 công trình quan trắc và hàng loạt các công trình quan trắc địa phương, được liên tục quan trắc các yếu tố động thái nước dưới đất. Dựa vào các kết quả quan trắc, bằng phương pháp mô hình số mô phỏng hệ thống nước dưới đất bằng mô hình dòng chảy với phần mềm Visual MODFLOW của Waterloo Hydrogeologic và cũng được dùng để dự báo diễn biến mực nước, bộ công cụ MT3DMS để dự báo diễn biến độ tổng khoáng hóa nước dưới đất giai đoạn 2017-2022. Về mực nước, đối với tầng chứa nước qh, vùng mực nước có xu thế giảm rất nhỏ, chiếm khoảng 8,33% phân bố ở vùng nội thành thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Đại bộ phận diện tích còn lại, mực nước có xu thế ổn định. Đối với tầng chứa nước qp, gần ½ diện tích của tầng chứa nước có xu thế suy giảm với tốc độ từ 0,1 đến trên 0,4 m/năm. Đó là các vùng đang khai thác mạnh mẽ. Về độ tổng khoáng hóa nước dưới đất tầng chứa nước qh: chỉ có một diện tích rất nhỏ, khoảng 50 km2 ở các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Quảng Ninh là có thể xẩy ra xâm nhập mặn. Tầng chứa nước qp, đến năm 2022 vùng bị xâm nhập mặn có thể có diện tích khoảng 640 km2, chiếm 5,1%, ở Hải Phòng và các tỉnh Bắc Ninh, Hải dương, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam. Mực nước có xu thế giảm và xâm nhập mặn ở tầng chứa nước qp tăng là do khai thác mạnh.

Từ khóa: Dự báo, diễn biến tài nguyên nước dưới đất, mô hình số, tầng chứa nước, tốc độ hạ thấp mực nước, xâm nhập mặn.

80

FORECASTING UNDERGROUND WATER RESOURCES IN THE NORTHEN DELTA FOR THE 2017 – 2022 PERIOD

Nguyen Van Dan(1), Nguyen Thi Ha(2), Dang Tran Trung(2), Van Thuy Linh(3)
(1) Viet Nam Association of Hydrogeology
(2)Center for Water Resources Monitoring and Forecast
(3)The University of Science

Abstract: The Red river delta plain (RRDP) has an area of nearly 17,000km2, located in the territory of 12 provinces and cities in the north that is the key economic area, the population is very crowded with high water demand, so groundwater (GW) is being exploited strongly for the different needs. The RRDP is structured by Quaternary sedimentary rocks with thickness ranging from about 10m in the fringe to over 100 in the coastal area. Due to phasing, the Quaternary sediments are divided into two porous aquifers: the upper Holocene (qh) and the lower Pleistocene aquifer (qp). GW in the qh aquifer is suitable for small scale and scattered scale of water supply for rural areas; GW in the qp aquifer can be supplied for public water supply for urban and industrial areas. To control and forecast the variation in groundwater resources, since the 1990s the GW monitoring network has been established. Up to now, there are 12 stations, 106 sites with 198 observation sites, which are continuously monitored for groundwater dynamics. The results of the observation are the basis for predicting the fluctuation of water resources in the period 2017-2022. On water level, for the aquifer qh, the water level tends to decrease very small, accounting for about 8.33% distributed in the inner city of Hanoi and Hai Phong. The remaining area, the water level tends to stabilize. For the qp aquifer, nearly half of the aquifer area tends to decline at a rate of 0.1 to over 0.4m/yr. These are areas that GW has been heavily exploiting. In terms of total dissolved solid, qh aquifer: only a very small area, about 50km2 in the provinces of Hung Yen, Bac Ninh, Thai Binh, Nam Dinh, Ha Nam, Quang Ninh is likely to be salt intrusion. The qp aquifer, by 2022, the saline intrusion area may be about 640 km2, accounting for 5.1% in Hai Phong and Bac Ninh, Hai Duong, Thai Binh, Nam Dinh and Ha Nam provinces. Water levels tend to decrease and salinity intrusion in the qp aquifer increases may due to trongly exploitation.

Key words: Predictions, variation of ground water resources, numerical models, aquifers, lowering of water level, salinity intrusion.

 

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN XÂM NHẬP MẶN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, ĐÁNH GIÁ ĐIỂN HÌNH TẠI TỈNH BẾN TRE

Vũ Thị Mai(1), Vũ Hoàng Ngân(1), Mai Văn Khiêm(2), Trần Tuấn Hoàng(2)
(1)Trường Đại học Kính tế Quốc dân
(2)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực đang bị ảnh hưởng nặng nhất của hạn hán, xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu. Trong những tháng đầu năm 2016, ảnh hưởng của xâm nhập mặn tại đây được đánh giá là nặng nề nhất trong 100 năm qua. Nghiên cứu này sử dụng mô hình thủy lực Mike 11 để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến xâm nhập mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (phiên bản cập nhật năm 2016) của Bộ Tài nguyên và Môi trường được sử dụng phục vụ nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ sâu xâm nhập mặn mặn tại hầu hết các sông, kênh, rạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều có xu hướng gia tăng trong tương lai. Theo kịch bản trung bình RCP4.5, diện tích chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn tương ứng với ranh mặn 4‰ chiếm khoảng 53% (2030), 56% (2050) và 65% (2100) toàn bộ diện tích Đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tỉnh Bến Tre, kết quả đánh giá tác động của xâm nhập mặn trong tương lai cho thấy vào khoảng năm 2030, theo kịch bản trung bình RCP4.5, với độ mặn trên 25‰ có khoảng 35 nghìn ha (chiếm 0,93%) đất nuôi tôm bị ảnh hưởng và với độ mặn trên 4o/oo sẽ có hơn 45 nghìn ha đất lúa bị ảnh hưởng (chiếm gần 0,99% diện tích đất trồng lúa toàn tỉnh).

Từ khoá: Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, Đồng bằng sông Cửu Long.

90

 

STUDYING THE IMPACTS OF CLIMATE CHANGE INTO SALT INTRUSION IN THE MEKONG RIVER DELTA, CASE STUDY IN BEN TRE PROVINCE

Vu Thi Mai(1), Vu Hoang Ngan(1), Mai Van Khiem(2), Tran Tuan Hoang(2)(1)National Economics University
(2)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: The Mekong Delta is currently the region where the most affected by saline intrusion due to climate change. In the dry season of 2016, the saline intrusion in Mekong delta is evaluated which the most seriously during the century and continuously worse happening as predicted. In the paper, we use MIKE 11 hydraulic model to simulate the process of saline intrusion in the Mekong Delta. Climate change and sea level rise scenarios (updated version 2016) of Ministry of Natural Resources and Environment are used for research. The results show that salinity intrusion in most rivers in the Mekong Delta will tend to increase in the future. According to the RCP4.5 scenario, the area affected by salinity intrusion corresponding to the salinity 4‰ is about 53% (2030), 56% (2050) and 65% (2100) of the whole area of the Mekong Delta. For Ben Tre province, the results of the assessment of the impact of salinity intrusion in the future, so that, in 2030, according to the average scenario RCP4.5, with salinity over 25 ‰ have about 35 thousand ha (accounting for 0 ,93%) of shrimp land is affected and more than 45,000 ha of paddy land will be affected by the salinity over 4‰ (accounting for nearly 0.99% of the province's paddy land area).

Keywords: Climate change, salt intrusion, Mekong River Delta.