IMHEN
Thông báo / Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu
Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu Số 4 - 2017
Thứ năm, 22/02/2018

Danh mục các bài báo đăng trong Số 4 - 2017

DANH MỤC BÀI BÁO TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU SỐ 4-2017

Stt

Tên bài, tác giả

Trang

1

THƯ CHÚC MỪNG NĂM MỚI CỦA TỔNG BIÊN TẬP TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1

2

THIẾU HỤT MƯA Ở VIỆT NAM TRONG ĐỢT EL NINO 2014-2016

Nguyễn Văn Thắng(1), Nguyễn Trọng Hiệu(2), Mai Văn Khiêm(1), Vũ Văn Thăng(1)*
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
(2)Trung tâm Khoa học Công nghệ Khí tượng Thủy văn và Môi trường

Tóm tắt: Đặc điểm hoàn lưu khí quyển và sự thiếu hụt mưa ở Việt Nam trong đợt EL Nino 2014-2016 được nghiên cứu dựa trên cơ sở số liệu tái phân tích của Trung tâm Quốc gia về Dự báo Môi trường/Trung tâm Quốc gia về Nghiên cứu khí quyển (NCEP/NCAR) và số liệu mưa quan trắc của 54 trạm khí tượng của Việt Nam. Kết quả cho thấy, trong thời gian hoạt động của đợt El Nino, một số đặc điểm sau đây về hoàn lưu khí quyển trên Đông Á - Tây Thái Bình Dương đã được ghi nhận: (1) Suy giảm của yếu tố hoàn lưu gồm áp cao Thái Bình Dương (hoạt động thiên về phía Nam và phía Đông của áp thấp xích đạo), khí áp trên Đông Bắc Thái Bình Dương, gió Đông, vận tải ẩm hướng Đông, bức xạ phát xạ sóng dài trên nửa phía Đông xích đạo Thái Bình Dương; (2) Gia tăng của khí áp trên vùng biển xích đạo - nhiệt đới Tây Thái Bình Dương và bức xạ phát xạ sóng dài ở khu vực Việt Nam và phụ cận. Tỷ lệ tháng thiếu hụt mưa vào khoảng 50% ở Bắc Bộ, 60% ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, lên đến 75,9% ở Tây Nguyên, 73,7% ở Nam Bộ. Tỷ lệ trạm có lượng mưa thiếu hụt trong cả đợt là 25% ở Tây Bắc, 28,6% ở Đông Bắc, 37,5% ở đồng bằng Bắc Bộ, lên đến 88,9% ở Nam Trung Bộ và 100% ở Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ. Nói chung, tình trạng thiếu hụt mưa giảm dần từ Nam ra Bắc. Đặc biệt, lượng mưa thiếu hụt trong đợt El Nino này lên đến 1.887,6 mm tại trạm khí tượng Phú Quốc.

Từ khóa: El Nino, hoàn lưu khí quyển, thiếu hụt mưa.

2

THE CHARACTERISTICS OF ATMOSPHERICAL CIRCULATION AND STATUS OF RAINFALL DEFICIT IN VIET NAM DURING 2014-2016 EL NINO EVENT

Nguyen Van Thang(1), Nguyen Trong Hieu(2), Mai Van Khiem(1), Vu Van Thang(1)
(1)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change
(2)Center for Hydro-Meteorological, Environmental Science and Technology

Abstract: Analysis of the relationship between atmospheric circulation characteristics and rainfall deficit in Viet Nam during the 2014-2016 El Nino was based on the NCEP/NCAR re-analysis dataset and 54 observed rainfall stations in Viet Nam. The results show that during the event, the main characteristics of atmospheric circulation over East Asia-West Pacific were found: Weakening of the Western Pacific subtropical high; southward and eastward shift of the Equatorial Low-pressure trough; Decreasing of pressure over the North East Pacific and eastern wind, Eastward moisture transformation, outgoing longwave radiation over the eastern part of the tropical equatorial Pacific; Increasing of pressure over the West Pacific and outgoing longwave radiation over Viet Nam and adjacent regions. The frequency of monthly rainfall deficit was around 50% in North West, North East, North Delta, 60% in North Central, South Central and 75.9% in Central Highlands, 73.0% on South Delta. The ratio of meteorological stations with rainfall deficit in the event was 25% in North West, 28.6 on North East, 37.5 in North Delta, 88.9% in South Central and 100% in North Central, Central Highlands, South Delta. In general, rainfall deficit gradually decreased from South to North climate zones. In particular, the most deficient rainfall in this event reached 1887.6 mm at Phu Quoc meteorological station.

Keywords: El nino, atmospherical ciculation, rainfall deficit.

3

ĐÁNH GIÁ LƯỢNG PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TRONG KHAI THÁC
HẢI SẢN TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM NHẸ
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trần Thị Lam Phương(1), Dư Văn Toán(2), Lưu Thị Toán(1), Nguyễn Thị Ba Liễu(1)
(1)Khoa các Khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội
(2)Viện Nghiên cứu biển và hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Tóm tắt: Việt Nam với 28 trong số 63 tỉnh, thành phố nằm ven biển, diện tích các huyện ven biển chiếm 17% tổng diện tích cả nước và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số Việt Nam (Chiến lược biển Việt Nam đến 2020). Vì vậy, thủy sản có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, được xác định là một trong những ngành có nhiều tiềm năng và thế mạnh của nước ta. Nghiên cứu được tiến hành tại tỉnh Quảng Trị và thí điểm tại huyện Triệu Phong với 03 xã giáp biển gồm Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng và 02 xã Triệu Phước, Triệu An giáp sông Thạch Hãn - một sông lớn ở địa phương, đổ ra biển ở cảng Cửa Việt, là một trong những cảng biển lớn của miền Trung. Các xã ven biển là xã Triệu Lăng, Triệu Vân, Triệu An có diện tích tự nhiên 35,98 km2, có chiều dài bờ biển 18 km, ngư trường rộng với nhiều loại hải sản quý, giá trị kinh tế cao; có cửa lạch, cảng cá, bến cá.

Từ khóa: Khí nhà kính, tàu cá, hải sản, biến đổi khí hậu, giảm nhẹ khí nhà kính, Quảng Trị.

15

THE EVALUATION OF GREENHOUSE GAS EMISSIONS IN QUANG TRI
SEAFOOD EXPLOITATION AND PROPOSED SOLUTIONS OF MITIGATION MEASURES IN THE CONTEXT OF CLIMATE CHANGE

Tran Thi Lam Phuong(1), Du Van Toan(2), Luu Thi Toan(1), Nguyen Thi Ba Lieu(1)

(1)School of interdisciplinary science, VNU

(2)Viet Nam Institue of Seas and Islands, MONRE

Abstract: There are 28 in 63 coastal provinces and cities in Viet Nam, occupies 17% of the country's total coastal area and is home to over one fifth of Vietnam's population (Strategic marine Viet Nam 2020). Therefore, fishery is very important in the national economy, identified as one of the potential and strengths of our country. This study was conducted in Quang Tri Province and piloted in Trieu Phong District with 3 coastal communes Trieu An, Trieu Van, Trieu Lang and Trieu Phuoc communes and Trieu An river commune, near Thach Han river, pouring into the sea at Cua Viet port, is one of the large seaports of Central Viet Nam. The coastal communes of Trieu Lang, Trieu Van and Trieu An have a natural area of 35.98 km2, 18 km of coastline, a wide fishing ground with many kinds of precious seafood, high economic value; There are gates, fishing ports and fish wharves. The study shows the total fleet oil consumption of the current fleet is 75,691.77 tons; Greenhouse gas emissions are 240,140.47 tons CO2, 19.39 tons N2O and 16.16 tons CH4. The study also shows the potential for reducing greenhouse gas emissions. After applying mitigation measures, the amount of fuel saved is 22.707,53 tons, at the same time, a reduction in greenhouse gas emissions of 204,453.6 tons of CO2, 16.51 tons of N2O and 13.76 tons of CH4.

Keywords: Greenhouses Gas (GHG), Fishing vessels, Fisheries, Climate change, GHG emission reduction, Quang Tri.

4

BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG GIÓ MÙA MÙA HÈ Ở VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ 21: DỰ TÍNH BẰNG MÔ HÌNH PRECIS THEO KỊCH BẢN RCP4.5 VÀ RCP 8.5

Nguyễn Đăng Mậu, Nguyễn Văn Thắng, Mai Văn Khiêm
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Bài báo trình bày kết quả dự tính biến động một số đặc trưng gió mùa mùa hè ở khu vực Việt Nam vào thời kỳ 2046-2065 và 2080-2099 theo kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 từ sản phẩm mô hình PRECIS/CNRM và PRECI/GFDL. Kết quả dự tính biến đổi cho thấy, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc gió mùa mùa hè có xu thế đến muộn hơn so với thời kỳ cơ sở. Trong khi mức độ biến động của thời điểm bắt đầu gió mùa mùa hè được dự tính giảm vào giữa và cuối thể kỷ so với thời kỳ cơ sở. Ngược lại, thời điểm kết thúc gió mùa mùa hè được dự tính biến động mạnh mẽ hơn vào giữa và cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ cơ sở. Mức độ biến động của độ dài mùa và cường độ gió mùa mùa hè cũng được dự tính gia tăng vào giữa và cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ cơ sở trong đa số trường hợp.

Từ khóa: Gió mùa mùa hè, bắt đầu, kết thúc, độ dài mùa, cường độ, gián đoạn.

25

VARIABILITY OF THE VIETNAM SUMMER MONSOON FOR THE 21st
CENTURY: PROJECTION OF PRECIS MODEL UNDER RCP4.5 AND RCP8.5 SCENARIOS

Nguyen Dang Mau, Nguyen Van Thang, Mai Van Khiem
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change

Abstract: Based on the projections of the PRECIS/CNRM and PRECIS/GFDL models, this article presents the changes in variability of Vietnam summer monsoon for 2046-2065 (mid-21st century) and 2080-2099 (end-21st century) under the RCP4.5 and RCP8.5 compared with the baselise (1981-2005). Predicted results in the future under the medium and high scenario (RCP4.5 and RCP8.5) show that of onset and withdrawal dates would likely change insignificantly in the future. The variability of the onset dates would likely decrease in the future. However, the variability of the withdrawal would like increase considerably in the future. In addition, results showed the variability of duration and intensity would increase in the future.

Keywords: Viet Nam summer monsoon, onset, withdrawal, duration, intensity, break.

5

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TOÀN CẦU TRONG
DỰ BÁO KHÍ HẬU HẠN MÙA CHO VIỆT NAM

Mai Văn Khiêm*, Phạm Quang Nam, Hà Trường Minh, Vũ Văn Thăng
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Bài báo này trình bày một số kết quả bước đầu về việc ứng dụng mô hình khí quyển toàn cầu bảo giác lập phương CCAM trong dự báo khí hậu hạn mùa cho toàn cầu và khu vực Việt Nam. Kết quả thử nghiệm dự báo khí hậu hạn mùa giai đoạn 2012-2014 với các điều kiện biên dưới (nhiệt độ bề mặt nước biển - SST) khác nhau được phân tích và đánh giá: Nguồn SST từ dự báo của mô hình khí hậu toàn cầu CFS của Mỹ (CCAM_CFS) và SST từ dự báo của Viện Nghiên cứu quốc tế về khí hậu và xã hội - IRI (CCAM_IRI). Kết quả cho thấy, trong cả hai trường hợp CCAM toàn cầu đều đã cho dự báo khá tốt các trường hoàn lưu quy mô lớn khi so sánh với số liệu phân tích CFSnl và số liệu dự báo của CFS. Trên khu vực Việt Nam, nhiệt độ dự báo có xu hướng thấp hơn quan trắc trong hầu hết các tháng, sai số trong các tháng mùa đông lớn hơn các tháng mùa hè, sai số ở phía Bắc lớn hơn phía Nam, sai số trung bình ở hạn 3 tháng trong cả hai trường hợp khoảng 2,5oC, sai số khá ổn định và có tính hệ thống. Lượng mưa dự báo thì biến động nhiều hơn, lượng mưa có xu hướng thấp hơn quan trắc trong các tháng mùa mưa. Sai số tương đối trong các tháng mùa mưa khoảng 35-70 % trên các vùng khí hậu phía Bắc, các vùng phía Nam sai số nhỏ hơn. Về kỹ năng dự báo, CCAM_IRI cho kỹ năng dự báo nhiệt độ tốt hơn CCAM_CFS và kỹ năng ở các hạn giữa tốt hơn các hạn đầu và cuối. Ngược lại, kỹ năng dự báo mưa ở các hạn gần tốt hơn và kỹ năng của CCAM_CFS tốt hơn đáng kể.

Từ khóa: CCAM, mô hình toàn cầu, SST dự báo, dự báo mùa, khu vực Việt Nam.

34

STUDY THE APPLICABILITY OF GLOBAL MODEL IN SEASONAL
FORECASTING FOR VIET NAM

Mai Van Khiem, Pham Quang Nam, Ha Truong Minh, Vu Van Thang
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstracts: This article presents some experimental results of application of Conformal-Cubic Atmospheric Model (CCAM) in seasonal forecasting for the global and regional Viet Nam. The results of forecast in period 2012-2014 with different boundary conditions (sea surface temperature - SST) were analyzed and assessed, source SST forecast from global climate model CFS of the National Centers for Environmental Prediction (CCAM_CFS), and SST from the International Research Institute for Climate and Society (CCAM_IRI). The 
results show that model has well predicted large-scale circulation all over the global compared to CFS analysis data and CFS forecast for both cases. Over Viet Nam, the forecast of temperature tends to be lower than observed for most of the months, the error in winter months is greater than in summer months, the error in the north is greater than in the south. The average error of lead time 3 months of both cases is about 2.5oC, the error is quite stable and systematic. For rainfall, the forecast is more variability and tends to be lower in the rainy season. Relative error in the rainy season is about 35-70% in the northern climatic regions, the southern part is smaller. The predictive skill of temperature of CCAM_IRI gives better CCAM_CFS and at medium lead times are better than short and long. But with rainfall, the skill in short lead times are better than others and skill of CCAM_CFS is significantly better.

Keywords: CCAM, global model, SST forecasts, seasonal forecasting, Viet Nam region.

6

ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA XOÁY THUẬN NHIỆT ĐỚI Ở TÂY BẮC
THÁI BÌNH DƯƠNG, BIỂN ĐÔNG VÀ ĐỔ BỘ VÀO VIỆT NAM NĂM 2016

Nguyễn Thị Xuân, Trương Bá Kiên, Vũ Văn Thăng*, Lã Thị Tuyết
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Bão và áp thấp nhiệt đới gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới thường hoạt động vào các tháng từ tháng V đến tháng XII trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và từ tháng VI đến tháng XI trên khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam. Để cung cấp thông tin về mùa bão năm 2016 cho người sử dụng, bài báo này tổng kết lại tình hình hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, Biển Đông và đổ bộ vào Việt Nam. Đồng thời một số đặc trưng thống kê cũng được giới thiệu để đánh giá tần suất và cường độ hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới trong năm 2016.

Từ khóa: Xoáy thuận nhiệt đới, bão đổ bộ.

46

ACTIVITIES OF TROPICAL DEPRESSIONS AND TROPICAL STORMS IN
NORTH-WESTERN PACIFIC AND EAST SEA IN 2016

Nguyen Thi Xuan, Truong Ba Kien, Vu Van Thang, La Thi Tuyet
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: With the purpose of providing information about the 2016 tropical cyclone season for the users, this article summarizes the activities of tropical cyclones in the North-Western Pacific Ocean, East Sea and landed in Viet Nam. Besides, a number of statistical characteristics are also introduced for evaluation of the frequency and intensity of tropical cyclones in 2016.

Keywords: Tropical cyclone, typhoon landfall.

7

ỨNG DỤNG THÔNG TIN KHÍ HẬU TRONG VIỆC
CẢNH BÁO DỊCH BỆNH TIÊU CHẢY VÙNG TÂY BẮC

Nguyễn Hữu Quyền*, Nguyễn Văn Thắng, Dương Văn Khảm,
Lê Thị Phương Mai, Phạm Đức Phúc
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Biến đổi khí hậu là một trong những mối đe dọa lớn nhất đến sức khỏe con người trên toàn cầu trong thế kỷ 21. Vì vậy, việc khai thác sử dụng các thông tin khí hậu để dự báo, cảnh báo sớm các dịch bệnh ở người và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là việc làm rất cần thiết, nhưng cho tới nay còn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu chính của nghiên cứu này nhằm xây dựng mô hình ứng dụng thông tin khí hậu phục vụ cảnh báo dịch bệnh trên người, đặc biệt là bệnh tiêu chảy ở vùng Tây Bắc. Nghiên cứu đề xuất sử dụng mô hình động thái ARIMAX với các bộ số liệu dịch bệnh và khí hậu theo bước thời gian tháng, thời kỳ 2004-2014 để cảnh báo dịch bệnh tiêu chảy, trong đó số liệu năm 2014 đã được sử dụng để kiểm chứng mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình động thái ARIMAX có thể cảnh báo số ca mắc bệnh tiêu chảy khá phù hợp với thực tế.

Từ khóa: Bệnh tiêu chảy, thông tin khí hậu, biến đổi khí hậu, mô hình cảnh báo dịch bệnh. 

53

 
 
 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
60

APPLYING CLIMATE INFORMATION FOR DIARRHEAL DISEASE
WARNING IN THE NORTHWEST REGION OF VIET NAM

Nguyen Van Thang, Duong Van Kham, Nguyen Huu Quyen,
Le Thi Phuong Mai, Pham Duc Phuc
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: Climate change is one of the most serious threats to global human health in the 21st century. Therefore, using climate information in epidemic forecasting and early warning systems and reducing vulnerability to climate change is very important but so far this was not well studied. The main objective of this study is to apply and further develop a model using climate information for epidemic warning, especially for diarrheal disease, in the Northwest region of Viet Nam. The ARIMAX dynamic model has been applied using monthly climate and morbidity data sets of period 2004-2014 with 2014 data used for model calibration. The results have showed that ARIMAX dynamic model can simulate diarrheal disease cases very closely to the observation data, therefore can provide a good basis for diarrheal disease warning system.

Keywords: Diarrheal disease, climate information, climate change, epidemic disease warning model.

8

CƠ CHẾ NHIỆT ĐỘNG LỰC GÂY MƯA LỚN Ở NAM BỘ
VÀ NAM TÂY NGUYÊN TỪ NGÀY 9-13/08/2013
DO BÃO HOẠT ĐỘNG Ở BẮC BIỂN ĐÔNG KẾT HỢP
VỚI GIÓ MÙA TÂY NAM VÀ ĐỊA HÌNH

Vũ Văn Thăng(1), Trần Duy Thức(1), Vũ Thế Anh(1),
Hoàng Thị Thúy Vân(1), Lã Thị Tuyết(1), Nguyễn Văn Hiệp(2)
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
(2)Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

 Tóm tắt: Bài báo này sử dụng mô hình số độ phân giải cao WRF để nghiên cứu cơ chế nhiệt động lực gây đợt mưa lớn từ 9-13/08/2013 trên khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ trong trường hợp bão Utor hoạt động ở Bắc Biển Đông. Mô hình WRF được thiết kế với ba miền tính lồng nhau, độ phân giải lần lượt là 54km, 18km và 6km. Miền 3 bao trọn khu vực Nam Bộ và Nam Tây Nguyên. Số liệu sử dụng là số liệu quan trắc và số liệu GFS. Kết quả phân tích cho thấy mưa lớn xảy ra do sự tương tác giữa hoàn lưu bão Utor với gió mùa Tây Nam thể hiện qua dải vận tải ẩm Tây Nam từ vịnh Bengal đến khu vực và nối với dải vận tải ẩm của hoàn lưu bão. Sự tương tác này đã làm mạnh lên một bộ phận gió Tây Nam đến khu vực nghiên cứu, mang không khí giàu ẩm và động năng lớn, kết hợp với hiệu ứng chặn và nâng địa hình góp phần làm tăng cường sự hội tụ ẩm, hình thành các dòng thăng cưỡng bức mạnh mẽ trước sườn đón gió gây mưa cho khu vực tạo điều kiện thuận lợi gây mưa lớn.

Từ khóa: Mưa lớn, Cơ chế nhiệt động lực, Bão, WRF.

 

THERMODYNAMIC MECHANISM CAUSING HEAVY RAINFALL OVER
THE CENTRAL HIGHLAND AND THE SOUTH IN THE CASE OF A FAR
TYPHOON OBSERVED OVER NORTHERN VIETNAM EAST SEA
COMBINATED WITH SOUTHWEST MONSOON AND TERRAIN

Vu Van Thang(1), Tran Duy Thuc(1), Vu The Anh(2),
Hoang Thi Thuy Van(1), La Thi Tuyet(1), Nguyen Van Hiep(2)
 (1)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change

(2)Institute of Geophysics, Viet Nam Academy of Science and Technology
 

Astracts: In this article, the simulated products from WRF high-resolution model were used to research the thermodynamic mechanism causing the typical heavy rain from 9-13/8/2013 in the Central Highlands and the South in the case of typhoon Utor observed over Northern East Sea. The model runs with three nested domains with resolutions of 54 km, 18 km and 6 km, respectively. Third domain covers the whole of the South and south of the Central Highlands. Data has been used in this study including observation data and re-forecast data of CFS model. The results show that interaction between circulation of typhoon Utor, southwest monsoon in forming this heavy rainfall event has been determined through Southwest moisture transport band which originate from Bengal gulf to the research region and connected typhoon circulation Utor. This interaction help to enhance a part of Southwest monsoon to the region which bring humid air and large kinetic energy combining with orographic blocking and lifting effects at high terrain leading to enhance moisture convergence and form the forced updraft in west windward side causing heavy rainfall.

Key words: Heavy rainfall, Thermodynamic mechanism, Typhoon, WRF.

9

TÍNH TOÁN PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TỪ HOẠT ĐỘNG CHÔN LẤP
CHẤT THẢI RẮN CHO NĂM CƠ SỞ 2014 VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ CHƯA CHẮC CHẮN CỦA KẾT QUẢ

Vương Xuân Hòa, Trần Thục
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Bài báo trình bày một số kết quả về việc ứng dụng Hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính (KNK) quốc gia của Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) phiên bản năm 2006 để tính toán lượng phát thải KNK từ hoạt động chôn lấp chất thải rắn ở Việt Nam năm 2014; và ứng dụng các Hướng dẫn thực hành tốt của IPCC năm 2000 để đánh giá độ chưa chắc chắn cho kết quả tính toán phát thải KNK. Theo đó, lượng phát thải KNK từ hoạt động chôn lấp chất thải rắn ở Việt Nam năm 2014 là khoảng 9,2 triệu tấn CO2tđ. Xu thế phát thải KNK từ lĩnh vực này trong nhưng năm gần đây tăng nhanh hơn so với giai đoạn trước 2005. Mức độ chưa chắc chắn của kết quả về phát thải KNK là khoảng 59,6%, chủ yếu là do việc sử dụng các hệ số phát thải KNK mặc định theo Hướng dẫn của IPCC.

Từ khóa: Khí nhà kính, chất thải rắn, mức độ chưa chắc chắn.

70

GREENHOUSE GASES INVENTORY AND UNCERTAINTY ASSESSMENT
FOR SOLID WASTE DISPOSAL ACTIVITY IN 2014

Vuong Xuan Hoa, Tran Thuc
Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: This paper presents the application of 2006 IPCC Guideline for National Greenhouse Gases Inventory for calculating greenhouse gases emissions from solid waste disposal activity in Viet Nam in 2014; and the application of IPCC Good Practice Guidances for assessing uncertainty of emission results. As a results, green house gases emissions from landfills in 2014 is approximately 9.2 million ton of CO2 equivalent. Emission trend from this sector is increasing rapidly compared to the period before 2005. The uncertainty of greenhouse gases emissions result is around 59.6% which is mainly due to the use of default emission factors.

Keywords: Greenhouse gases, municipal solid waste, uncertainty.

10

ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG QUẢN LÝ
TÀI NGUYÊN NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CẤP NƯỚC SINH HOẠT
TỈNH CÀ MAU

Phạm Ngọc Anh(1), Huỳnh Thị Lan Hương(2)
Đỗ Tiến Anh(2), Nguyễn Thị Liễu(2)*
(1)Cổng thông tin điện tử, Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

m tắt: Nghiên cứu mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên nước (QLTNN) đối với lĩnh vực cấp nước sinh hoạt chính là có xem xét đến khía cạnh tài nguyên nước như là một dạng hàng hóa. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Cà Mau, mô hình cộng đồng QLTNN trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt có sự khác nhau giữa mô hình cộng đồng QLTNN đối với mô hình cấp nước loại 1 và mô hình cấp nước loại 2, điều này được minh chứng qua quá trình điều tra khảo sát của nhóm nghiên cứu tại địa phương. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp xây dựng bộ chỉ số để đánh giá tính bền vững của mô hình cộng đồng QLTNN tại tỉnh Cà Mau. Kết quả đánh là 0,39 (mô hình không bền vững) đối với mô hình cộng đồng QLTNN mô hình cấp nước tập trung loại 1 và 0,8 (mô hình bền vững) đối với mô hình cộng đồng QLTNN mô hình cấp nước tập trung loại 2, đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về vấn đề cộng đồng QLTNN tại tỉnh Cà Mau, từ đó góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cho các nhà hoạch định chính sách có được định hướng trong vấn đề QLTNN nói chung và nâng cao vai trò của cộng đồng QLTNN nói riêng tại địa phương

Từ khóa: Cộng đồng quản lý tài nguyên nước, cấp nước sinh hoạt, tính bền vững, mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên nước, Cà Mau.

78

ASSESSINNG THE STABILITY OF WATER RESOURCES MANAGEMENT
COMMUNITY FOR DOMESTIC WATER SUPPLY SECTOR IN CA MAU PROVINCE

Pham Ngoc Anh(1), Huynh Thi Lan Huong(2)

Do Tien Anh(2), Nguyen Thi Lieu(2)

(1)Ministry of Natural Resources and Evironment Portal

(2)Viet Nam Institute of Meteorology, Hydrology and Climate Change

Abstract: Research of community-based water resource maagement in domestic water supply sectorrequires researchers to look at water resource as a commodity. Currently, the province of Ca Mau, community-based water resource management in domestic water supply sector is devided to type 1 and type 2, as found by the research group in the field study.

Research uses indicators method to assess the sustainability of community-based water resource management in Ca Mau province. The indication is results 0.39 for type 1 (unsustainable model) and is 0.8 for type 2 (sustainable model). Thus, showing a broad picture of the community-based water resource management research results show issues in localities. This would later serve as practical-scientific fundamentals for local policymakers get oriented in the field of water resources management in general and enhancing the role of community-based water resource management in particular.

Keywords: Water resource management (WRM), domestic water supply, community-based water resource management, Sustainability, Ca Mau.