Công cụ WebGIS hỗ trợ khai thác thông tin Kịch bản biến đổi khí hậu

Lần đầu tiên, người dùng có thể dụng truy cập cơ sở dữ liệu Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam qua hệ thống WebGIS và khai thác thông tin theo nhu cầu.

Nhằm đưa dữ liệu vào thực tiễn, Kịch bản Biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản cập nhật năm 2025 đã được tích hợp trên nền tảng trực tuyến tại địa chỉ: kichbanbdkhvn.mae.gov.vn. Hệ thống sẵn sàng phục vụ các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và người dùng khắp 34 tỉnh/thành của cả nước.

Trải nghiệm và tính năng nổi bật trên nền tảng WebGIS

Theo Tiến sĩ Trần Thanh Thủy, Trưởng phòng Khoa học, Đào tạo và Hợp tác quốc tế (Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển), nền tảng Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam được phát triển nhằm hiện thực hóa chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”. Kịch bản giúp các nhà quản lý xây dựng tầm nhìn dài hạn, chủ động phân bổ nguồn lực và phòng ngừa các cú sốc khí hậu.

Hệ thống WebGIS được thiết kế tối ưu, trực quan hóa toàn bộ dữ liệu khí hậu, ngập lụt ven biển và chuyên đề khí hậu đô thị (mô phỏng đảo nhiệt và ngập lụt chi tiết cho Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh).

Giao diện trang chủ Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam. Nguồn: IMHEMS. 

Khi truy cập, trang tổng quan có các thanh điều hướng thông minh, hỗ trợ chuyển đổi giao diện sáng/tối, tải ấn phẩm tóm tắt, hướng dẫn sử dụng và truy cập tài liệu kỹ thuật. Bản đồ hiển thị trực quan dữ liệu dạng lưới raster, có thể phóng to/thu nhỏ, thể hiện ranh giới hành chính 34 tỉnh/thành phố.

Hệ thống đưa ra quy trình tra cứu 4 bước dạng phễu, dựa trên lựa chọn bước trước của người dùng để tự động lọc kết quả phù hợp cho bước sau. Cụ thể:

Bước 1 – Khu vực. Hệ thống mặc định toàn quốc hoặc theo kết quả tìm kiếm tỉnh/thành phố, vùng biển.

Bước 2 – Nhóm chuyên đề. Người dùng lựa chọn nhóm biến số khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, gió, bức xạ…), nước biển dâng hoặc biến đổi khí hậu đô thị.

Bước 3 –  Kịch bản phát thải. Người dùng lựa chọn kịch bản phát thải (thời kỳ cơ sở, SSP1-2.6, SSP2-4.5 hoặc SSP3-7.0).

Bước 4 – Giai đoạn thời gian. Người dùng sẽ chọn mốc thế kỷ (đầu: 2021-2040, giữa: 2041-2060, cuối: 2081-2100) kết hợp chu kỳ phân tích theo năm, mùa hoặc tháng.

Bảng phân tích chuyên sâu hiển thị ở góc phải màn hình. Ảnh: Trung Nguyên. 

Khi bấm vào một tỉnh/thành phố, bảng phân tích chuyên sâu sẽ hiển thị ở cạnh phải màn hình với 3 tab: Khí hậu (các chỉ số khí hậu chính và biểu đồ xu thế), nước biển dâng (chi tiết theo vị trí trạm đo hải văn cho các tỉnh ven biển) và ngập lụt (tỷ lệ diện tích bị ngập theo các mốc năm 2050, 2100).

Khi lựa chọn chế độ so sánh song song, hệ thống chia đôi màn hình để đối chiếu trực quan sự khác biệt giữa hai kịch bản phát thải hoặc hai mốc thời gian theo lựa chọn của người dùng. Trong đó, hỗ trợ đồng bộ thao tác như phóng to/kéo thả ở một bên thì bên còn lại tự động di chuyển theo.

Với việc số hóa toàn diện và cung cấp công cụ khai thác đa dạng, nền tảng WebGIS Kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2025 được kỳ vọng sẽ thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn, trở thành công cụ hữu ích cho các bộ, ngành và địa phương trong công tác quy hoạch, giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu trong tương lai. Toàn bộ dữ liệu đã sẵn sàng để các nhà quản lý khai thác trực tiếp.

Điểm đặc biệt là hệ thống WebGIS được thiết kế mở nhằm cho phép các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và địa phương kết nối tự động với cơ sở dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông qua kiến trúc RESTful API. Trong đó hỗ trợ giao thức bảo mật token, cho phép các cơ quan nghiên cứu và đối tác tích hợp trực tiếp dữ liệu khí hậu vào các hệ thống chuyên ngành.

Các vấn đề cần quan tâm khi khai thác kịch bản

Khi khai thác, sử dụng thông tin kịch bản, người dùng cần đặc biệt lưu ý kịch bản không phải là kết quả dự báo. Luật Khí tượng Thủy văn nêu rõ, kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và có tính tin cậy về xu hướng trong tương lai của khí hậu dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế – xã hội, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng.

Khi tiếp cận tài liệu kịch bản, người dùng thường thấy nhiều hình ảnh trực quan với các dải màu, cùng nhiều bảng số liệu có giá trị trong và ngoài dấu ngoặc đơn. Những dải màu hình thành từ việc các nhà khoa học không chỉ xây dựng kịch bản từ một mô hình khí hậu đơn lẻ, mà kết hợp từ hàng chục mô hình. Sau khi xử lý và tổng hợp kết quả mô phỏng sẽ tạo thành một khoảng dao động và hiển thị thành các dải màu trên biểu đồ.

Trên đồ thị, đường liền đậm biểu diễn giá trị trung vị (P50). Nếu xếp kết quả từ thấp đến cao của tất cả các mô hình sau khi được tổng hợp, xử lý, P50 chính là con số nằm ngay chính giữa: có đúng một nửa mô hình đưa ra kết quả thấp hơn và một nửa đưa ra kết quả cao hơn.

Ở cận trên và cận dưới của dải màu là P10 và P90. P10 (cận dưới) là ngưỡng mà 10% kết quả của các mô hình nằm dưới giá trị này; P90 (cận trên) là ngưỡng mà chỉ có 10% kết quả của các mô hình vượt qua giá trị này. Trên nền tảng web, người dùng có thể thấy giá trị trung vị trong bảng số liệu, còn với đồ thị chi tiết cần truy cập các báo cáo của kịch bản. 

Các mảng màu thể hiện số ngày nắng nóng gay gắt tăng nhiều hay ít tại các khu vực khác nhau trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trong bảng số liệu hiển thị giá trị trung vị của chỉ số khí hậu, thể hiện rõ xu thế thay đổi khí hậu của tỉnh đến năm 2100. Ảnh: Trung Nguyên. 

Khoảng cách giữa P10 và P90 chứa 80% kết quả dự tính của các mô hình, được coi là khoảng tin cậy khoa học để người dùng đưa vào tính toán, quy hoạch. Theo bà Thủy, khoảng cách P10-P90 càng rộng biểu thị độ bất định càng cao, đòi hỏi các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu phải có tính linh hoạt. Người dùng cần cân nhắc kỹ lưỡng và tham vấn chuyên gia để lựa chọn giá trị phù hợp nhất.

Chuyên gia khuyến nghị sử dụng giá trị trung vị làm mặc định cho quy hoạch thông thường; dùng P90 để kiểm tra sức chịu tải công trình trọng điểm trước nắng nóng, mưa lớn, nước biển dâng; hoặc dùng P10 để đánh giá nguy cơ hạn hán và thiếu hụt nguồn nước…

Link nguồn: tại đây