Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam – phiên bản 2025 được cập nhật trên cơ sở những tiến bộ mới về khoa học khí hậu, dữ liệu quan trắc và mô hình khí hậu quốc tế, đồng thời kế thừa các kết quả từ những phiên bản trước. So với các phiên bản năm 2009, 2012, 2016 và 2020, Kịch bản năm 2025 mở rộng đáng kể về phạm vi thông tin, mức độ chi tiết và khả năng hỗ trợ đánh giá tác động, rủi ro khí hậu và xây dựng các phương án thích ứng.

Các đại biểu chụp ảnh chung tại hội thảo
Sáng ngày 9/10/2026 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội thảo công bố kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, phiên bản năm 2025. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham dự và phát biểu chỉ đạo tại hội thảo.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên, kể từ lần đầu công bố năm 2009, Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam đã được cập nhật vào các năm 2012, 2016 và 2020, từng bước hoàn thiện về cơ sở khoa học, phương pháp và thông tin phục vụ đánh giá tác động, xác định rủi ro và hoạch định các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên phạm vi cả nước.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên phát biểu tại hội thảo
“Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản năm 2025 tiếp tục kế thừa các kết quả của những phiên bản trước, đồng thời cập nhật các kết quả khoa học mới nhất của Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu, sử dụng thế hệ mô hình khí hậu mới và các kịch bản chia sẻ kinh tế – xã hội, cập nhật về phương pháp, dữ liệu và độ phân giải; bổ sung, chi tiết hóa thông tin về các yếu tố khí hậu, hiện tượng cực đoan, nước biển dâng và nguy cơ ngập; lần đầu cung cấp kịch bản theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu, kịch bản chuyên sâu cho khu vực đô thị và bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với một số lĩnh vực nhạy cảm. Những kết quả này góp phần nâng cao khả năng đánh giá rủi ro, hỗ trợ xây dựng và lựa chọn các giải pháp thích ứng phù hợp với từng ngành, lĩnh vực và địa phương” – Thứ trưởng Lê Trọn Yên cho hay.

Quang cảnh hội thảo
Giới thiệu về quá trình xây dựng và những điểm mới của Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản năm 2025, PGS.TS. Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện KTTVMTB cho biết: Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản cập nhật năm 2025 được xây dựng trên cơ sở đánh giá thực trạng, khó khăn và nhu cầu khai thác thông tin kịch bản của các bộ, ngành, địa phương, với gần 300 phiếu tham vấn. Quá trình xây dựng có sự phối hợp về xử lý số liệu quan trắc, dự tính khí hậu tương lai bằng phương pháp động lực và thống kê, xây dựng bộ dữ liệu độ phân giải 10×10 km và tham vấn chuyên môn. Phiên bản 2025 được đổi mới về nội dung và cấu trúc, gồm 8 chương và các phụ lục chuyên sâu, bổ sung kịch bản khí hậu đô thị, kịch bản theo mức độ nóng lên toàn cầu (GWL), nguy cơ ngập và hướng dẫn khai thác, góp phần tăng tính chi tiết, trực quan và khả năng ứng dụng.

PGS.TS. Phạm Thị Thanh Ngà trình bày tại hội thảo
Kịch bản BĐKH không phải là dự báo, kịch bản BĐKH giả định có cơ sở khoa học và có tính tin cậy về xu hướng trong tương lai của khí hậu dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế – xã hội, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Do đó, việc sử dụng hiệu quả Kịch bản đòi hỏi xem xét cả phạm vi bất định và lựa chọn kịch bản phù hợp với mục tiêu sử dụng. Đối với quy hoạch và thiết kế gắn với các mốc thời gian cụ thể, Kịch bản khuyến nghị sử dụng thông tin theo các SSP; trong khi đánh giá rủi ro và xây dựng lộ trình thích ứng linh hoạt có thể khai thác thông tin theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu.
Tại hội thảo các khách mời đã cùng nghe TS. Trương Bá Kiên trình bày về Kịch bản BĐKH cho Việt Nam; TS. Lê Quốc Huy và TS. Nguyễn Thanh Bằng giới thiệu về Kịch bản nước biển dâng và nguy cơ ngập; TS. Nguyễn Hữu Quyền trình bày về Kịch bản BĐKH đô thị và tác động đến các ngành, lĩnh vực. Cuối cùng là Hướng dẫn khai thác và sử dụng Kịch bản BĐKH cho Việt Nam do TS. Trần Thanh Thủy trình bày. Theo đó, Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản năm 2025 tập trung vào các điểm nổi bật sau:

GS.TS. Trần Thục (Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam) chủ trì hội thảo
Chuyển sang thế hệ kịch bản CMIP6 và SSP
Một trong những điểm đổi mới quan trọng nhất của Kịch bản BĐKH 2025 là việc chuyển từ cách tiếp cận dựa trên các kịch bản RCP sang sử dụng các kịch bản SSP của thế hệ CMIP6. Ba nhóm kịch bản được lựa chọn gồm kịch bản thấp, kịch bản trung bình và kịch bản cao, phản ánh các mức phát thải và phát triển kinh tế – xã hội khác nhau.
Cách tiếp cận này cho phép xem xét BĐKH không chỉ dưới góc độ thay đổi nồng độ khí nhà kính mà còn trong mối quan hệ với những giả định về phát triển kinh tế – xã hội, công nghệ, năng lượng và chính sách khí hậu. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá rủi ro trong những điều kiện phát triển khác nhau.

TS. Trương Bá Kiên trình bày tại hội thảo
Chi tiết hóa thông tin khí hậu đến cấp xã và theo từng thời kỳ
Kịch bản BĐKH 2025 được cải tiến về độ phân giải không gian, cung cấp thông tin chi tiết đến cấp xã và cập nhật theo các thập kỷ. Bên cạnh các thông tin về nhiệt độ và lượng mưa, Kịch bản còn bổ sung các yếu tố như gió, bức xạ và nhiệt độ bề mặt biển; đồng thời xây dựng thông tin chuyên sâu cho các đô thị lớn.
Đây là bước tiến có ý nghĩa thực tiễn, bởi nhu cầu sử dụng Kịch bản BĐKH hiện nay không chỉ dừng ở quy mô quốc gia hay vùng mà ngày càng cần thông tin cụ thể cho từng địa phương, ngành, lĩnh vực và công trình.

TS. Nguyễn Hữu Quyền trình bày tại hội thảo
Lần đầu xây dựng kịch bản theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu
Một điểm mới nổi bật của phiên bản 2025 là việc cung cấp thông tin về các hiện tượng cực đoan theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5°C; 2,0°C; 3,0°C và 4,0°C.
Cách tiếp cận này đặc biệt hữu ích đối với đánh giá rủi ro và xây dựng các lộ trình thích ứng linh hoạt. Thay vì chỉ đặt câu hỏi khí hậu sẽ thay đổi như thế nào vào một thời điểm nhất định, các nhà quản lý có thể xem xét rủi ro sẽ gia tăng như thế nào khi nhiệt độ trung bình toàn cầu đạt từng ngưỡng nóng lên. Theo Kịch bản, khi mức nóng lên tăng, các cực đoan về nhiệt, mưa và nhiều hiện tượng khí hậu khác có xu hướng gia tăng cả về tần suất và cường độ.
Ở ngưỡng nóng lên 1,5°C, số ngày nắng nóng tại nhiều khu vực có thể tăng 10–30 ngày; khi mức nóng lên đạt 3–4°C, mức tăng có thể lên tới 30–50 ngày và vượt 50 ngày/năm tại nhiều khu vực Trung Bộ và Nam Bộ. Đáng chú ý, rủi ro đối với các cơn bão mạnh cũng gia tăng đáng kể khi mức nóng lên toàn cầu cao hơn.

TS. Lê Quốc Huy trình bày tại hội thảo
Làm rõ hơn các cực đoan khí hậu
Kịch bản 2025 không chỉ tập trung vào nhiệt độ và lượng mưa trung bình mà dành sự quan tâm lớn hơn cho các hiện tượng cực đoan – nhóm yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến thiên tai, sản xuất và đời sống.
Theo Kịch bản, vào cuối thế kỷ XXI, với kịch bản cao, số ngày nắng nóng có thể tăng trên 50 ngày và số ngày nắng nóng gay gắt tăng khoảng 20 ngày. Trong khi đó, số ngày rét đậm, rét hại tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ giảm mạnh. Cực đoan hạn hán cũng được dự tính gia tăng, đặc biệt tại Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ, nơi số tháng hạn có thể tăng 20–40%.
Đối với mưa cực đoan, lượng mưa cực đại trong một ngày và năm ngày được dự tính tăng khoảng 30–40% tại Bắc Bộ và Nam Bộ; số ngày mưa lớn tăng mạnh, đặc biệt tại Nam Bộ. Ở một số khu vực Bắc Bộ, Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ, số ngày có lượng mưa trên 100 mm/ngày có thể tăng 80–100% theo kịch bản cao.

TS. Nguyễn Thanh Bằng trình bày tại hội thảo
Bổ sung kịch bản BĐKH cho đô thị
Lần đầu tiên, Kịch bản BĐKH 2025 xây dựng nội dung chuyên sâu cho khu vực đô thị, trong đó tập trung vào Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Kịch bản xem xét đồng thời tác động của nóng lên toàn cầu và quá trình đô thị hóa, qua đó làm rõ sự gia tăng nhiệt độ, nắng nóng, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và mưa cực đoan.
Theo kịch bản cao, đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình khu vực nội đô Hà Nội có thể tăng khoảng 3,6–4,2°C, còn tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng khoảng 3,5–3,7°C so với thời kỳ cơ sở. Số ngày có nhiệt độ trên 35°C tại khu vực nội đô có thể tăng khoảng 50–90 ngày ở Hà Nội và 90–110 ngày ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Cập nhật toàn diện hơn về nước biển dâng và nguy cơ ngập
Kịch bản 2025 cập nhật dự tính nước biển dâng trên Biển Đông và khu vực ven biển Việt Nam, đồng thời xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng.
Đến năm 2100, mực nước biển dâng trung bình toàn Biển Đông được dự tính khoảng 46,1 cm theo kịch bản thấp đến 63,7 cm theo kịch bản cao; cận trên của khoảng bất định theo kịch bản cao có thể đạt 84,2 cm. Đối với toàn dải ven biển Việt Nam, theo kịch bản cao, mức dâng trung bình vào cuối thế kỷ khoảng 61,9 cm, với cận trên lên tới 82,0 cm.
Bản đồ nguy cơ ngập cho thấy sự phân hóa rất rõ giữa các vùng. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất, trong khi nhiều khu vực ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ có tỷ lệ ngập thấp hơn do đặc điểm địa hình.

TS. Trần Thanh Thủy hướng dẫn sử dụng kịch bản tại hội thảo
Bước đầu minh họa tác động đối với một số lĩnh vực
Một điểm mới có ý nghĩa ứng dụng của Kịch bản 2025 là bước đầu đánh giá tác động của BĐKH đối với một số lĩnh vực nhạy cảm, gồm sản xuất lúa, sức khỏe cộng đồng và kết cấu công trình.
Kết quả cho thấy tác động đối với sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long trở nên rõ rệt từ ngưỡng nóng lên 2°C trở lên; tại Đồng bằng sông Cửu Long, mức giảm năng suất có thể vượt 10% ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 4°C. Đối với sức khỏe, các điều kiện nhiệt – ẩm nguy hiểm được dự tính gia tăng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Công cụ WebGIS hỗ trợ khai thác thông tin
Cùng với bản tóm tắt dành cho các nhà quản lý và phiên bản đầy đủ, Kịch bản BĐKH 2025 được cung cấp đến người sử dụng thông qua hệ thống WebGIS, cho phép tra cứu và khai thác thông tin theo không gian, thời gian, so sánh kịch bản theo các kịch bản chia sẻ kinh tế xã hội và các thời kỳ, đồng thời cho phép người sử dụng truy cập cơ sở dữ liệu kịch bản thông qua API. Đây là bước tiến quan trọng nhằm đưa các kết quả nghiên cứu khí hậu đến gần hơn với nhu cầu của địa phương, ngành và các tổ chức sử dụng thông tin khí hậu.
Kịch bản BĐKH 2025 vì vậy không đơn thuần là một tập hợp các con số về khí hậu tương lai. Đây là một hệ thống thông tin khoa học được cập nhật về phương pháp, dữ liệu, mô hình và cách thức cung cấp thông tin, hướng tới hỗ trợ đánh giá rủi ro và ra quyết định trong điều kiện khí hậu thay đổi.
Với những đổi mới trên, Kịch bản BĐKH cho Việt Nam phiên bản 2025 cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức và doanh nghiệp chủ động hơn trong đánh giá rủi ro, quy hoạch phát triển, đầu tư hạ tầng và xây dựng các giải pháp thích ứng với BĐKH trong thế kỷ XXI.

