Phòng kinh tế và Quản lý môi trường, biển và hải đảo

Phòng Kinh tế và Quản lý môi trường, biển và hải đảo là đơn vị trực thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, có chức năng giúp Viện trưởng tổ chức thực hiện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực kinh tế, quản lý môi trường, biển và hải đảo. Tên giao dịch quốc tế của Phòng là Division of Economics and Management of Environment, Sea and Islands, viết tắt là DEM.

Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Phòng tập trung nghiên cứu các khía cạnh kinh tế và quản lý về rủi ro môi trường, tai biến môi trường trên đất liền, trên biển và hải đảo; nghiên cứu, cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn, giải pháp, mô hình và công cụ phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường, biển và hải đảo. Các hướng nghiên cứu chính của Phòng bao gồm quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế biển xanh; kinh tế tuần hoàn; kiểm toán môi trường, kiểm toán chất thải; lượng giá tài nguyên, dịch vụ hệ sinh thái; hạch toán tài nguyên, hạch toán tài khoản đại dương; ứng dụng mô hình, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT và chuyển đổi số trong quản lý môi trường, biển và hải đảo.

Trong quá trình hoạt động, Phòng đã từng bước hình thành thế mạnh nghiên cứu mang tính liên ngành, kết nối giữa kinh tế tài nguyên, khoa học môi trường, chính sách công và quản lý biển, hải đảo. Các nhiệm vụ, đề tài, dự án do Phòng chủ trì và tham gia đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý nhà nước, đồng thời tạo ra các sản phẩm có giá trị ứng dụng trong kiểm soát ô nhiễm, phục hồi môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường biển và vùng bờ.

  1. Thành tựu trong nghiên cứu khoa học và phục vụ quản lý nhà nước

Một trong những hướng nghiên cứu nổi bật của Phòng là điều tra, đánh giá ô nhiễm môi trường và đề xuất giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường. Tiêu biểu là dự án “Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh nhằm đề xuất các biện pháp cải tạo, phục hồi về môi trường”. Trong quá trình thực hiện, Phòng đã hoàn thành điều tra, khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố thuộc cả ba miền Bắc, Trung, Nam; tổ chức các hội thảo tham vấn chuyên gia về thực trạng quản lý, nhu cầu xử lý ô nhiễm, biện pháp phục hồi tài nguyên – môi trường và kinh nghiệm quốc tế trong cải tạo, phục hồi môi trường tại các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh.

Dự án đã xây dựng khung dự thảo hướng dẫn kỹ thuật về cải tạo, phục hồi môi trường tại bãi chôn lấp chất thải; hoàn thành các báo cáo chuyên đề về thực trạng bố trí nguồn lực, kinh phí; công nghệ xử lý ô nhiễm; các thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng biện pháp cải tạo môi trường tại các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh. Đây là kết quả có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần hỗ trợ các cơ quan quản lý và địa phương trong xử lý các điểm ô nhiễm tồn lưu, hướng tới quản lý chất thải rắn theo hướng bền vững.

Trong lĩnh vực môi trường biển và vùng bờ, Phòng tham gia thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá khả năng chịu tải của môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường các đầm phá thuộc khu vực biển từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận”. Dự án tập trung thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu, số liệu về hiện trạng môi trường, hiện trạng xả thải, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và công tác bảo vệ môi trường tại các đầm phá ven biển. Thông qua quá trình triển khai, Phòng đã tham gia xây dựng các báo cáo chuyên đề, thực hiện công tác ngoại nghiệp điều tra, thu thập bổ sung thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, hoạt động khai thác tài nguyên, hiện trạng môi trường, hiện trạng xả thải và công tác bảo vệ môi trường tại các đầm phá.

Bên cạnh đó, Phòng đã chủ trì và triển khai các nghiên cứu về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường. Nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá, đề xuất khung hướng dẫn áp dụng, đánh giá việc thực hiện kinh tế tuần hoàn đối với một số ngành công nghiệp năng lượng” là một hướng nghiên cứu có tính thời sự, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững. Nhiệm vụ này góp phần xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc áp dụng, đánh giá kinh tế tuần hoàn trong một số ngành công nghiệp năng lượng, qua đó hỗ trợ quá trình hoàn thiện chính sách và công cụ quản lý môi trường trong bối cảnh mới.

Đặc biệt, Phòng đã chủ trì đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hướng dẫn triển khai mô hình hợp tác công tư trong phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm”, mã số TNMT.ĐL.2025.02.08. Đây là hướng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động nguồn lực xã hội cho phục hồi nguồn nước, đồng thời bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực môi trường.

Ở cấp cơ sở, Phòng đã triển khai các đề tài gắn với kinh tế tuần hoàn và quản lý chất thải, như “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất mô hình thị trường trao đổi sản phẩm tái chế tại Việt Nam” và “Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất mô hình ngân hàng chất thải tại Việt Nam”. Các đề tài này tập trung làm rõ cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế, thực trạng trong nước và khả năng áp dụng các mô hình mới nhằm thúc đẩy phân loại, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải.

  1. Danh mục một số nhiệm vụ, đề tài, dự án đã và đang thực hiện

Bảng 1. Danh mục nhiệm vụ, đề tài, dự án đã hoàn thành hoặc kết thúc

TT

Tên nhiệm vụ, đề tài, dự án

Vai trò của Phòng

Tình trạng/kết quả chính

1

Điều tra, khảo sát, xây dựng hướng dẫn thực hiện kiểm toán môi trường tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ – áp dụng thí điểm tại một số cơ sở của ngành giấy, hóa chất và luyện gang thép

Chủ trì/thực hiện theo phân công

Đã hoàn thành thủ tục hồ sơ phê duyệt hoàn thành dự án; sản phẩm phục vụ hướng dẫn kiểm toán môi trường tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

2

Điều tra xây dựng hướng dẫn kỹ thuật phòng ngừa, ứng phó sự cố chất thải, nước thải, khí thải và phục hồi môi trường

Chủ trì/thực hiện theo phân công

Ngày 06/5/2024, Bộ TNMT có quyết định số 1207/QĐ-BTNMT phê duyệt kết quả và quyết toán nhiệm vụ.

Ngày 14/7/2025, Bộ NNMT ban hành Thông tư 41/2024/TT-BNNMT quy định chi tiết về các biện pháp kỹ thuật, phân loại sự cố và phục hồi môi trường sau sự cố phát thải.

3

Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh nhằm đề xuất các biện pháp cải tạo, phục hồi về môi trường

Phòng KT&QLMT-BHĐ chủ trì

Ngày 05/5/2026, Bộ NNMT có quyết định số 1624/QĐ-BNNMT phê duyệt kết quả và quyết toán nhiệm vụ.

4

Điều tra khảo sát, xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật áp dụng công nghệ, biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đối với cơ sở xử lý chất thải phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính

Cán bộ chuyển về Phòng KTQL tiếp tục là đầu mối chuyên môn

Kết thúc năm 2025; đang chờ thủ tục nghiệm thu cấp Bộ.

5

Điều tra, khảo sát đánh giá tình hình phát sinh, xử lý chất thải thực phẩm trong chất thải sinh hoạt và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp với đặc thù vùng, miền ở Việt Nam

Cán bộ chuyển về Phòng KTQL tiếp tục là đầu mối chuyên môn

Kết thúc năm 2025; đang chờ thủ tục nghiệm thu cấp Bộ.

 

Bảng 2. Danh mục nhiệm vụ, đề tài, dự án đang thực hiện hoặc chuyển tiếp

TT

Tên nhiệm vụ, đề tài, dự án

Loại hình

Vai trò của Phòng

Tình trạng/kết quả chính

1

Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hướng dẫn triển khai mô hình hợp tác công tư trong phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm

Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, mã số TNMT.ĐL.2025.02.08

Chủ trì

Đã được phê duyệt, cấp kinh phí và tiếp tục thực hiện; dự kiến kết thúc năm 2026.

2

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất mô hình thị trường trao đổi sản phẩm tái chế tại Việt Nam

Đề tài cấp cơ sở

Chủ trì/thực hiện

Đã thực hiện một số nội dung chính, gồm cơ sở lý luận, kinh nghiệm thế giới và đánh giá khái quát mô hình thị trường trao đổi sản phẩm tái chế tại Việt Nam.

3

Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất mô hình ngân hàng chất thải tại Việt Nam

Đề tài cấp cơ sở

Chủ trì/thực hiện

Đang triển khai các chuyên đề về cơ sở lý luận, kinh nghiệm thế giới và đánh giá cơ hội áp dụng mô hình ngân hàng chất thải tại Việt Nam.

4

Điều tra, đánh giá khả năng chịu tải của môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường các đầm phá thuộc khu vực biển từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận

Dự án/nhiệm vụ nguồn sự nghiệp bảo vệ môi trường

Phòng phối hợp; năm 2026 Trung tâm Nghiên cứu Biển làm đầu mối

Đã hoàn thành các báo cáo chuyên đề thuộc nội dung thu thập, tổng hợp thông tin; hoàn thành công tác ngoại nghiệp điều tra, thu thập bổ sung.

5

Điều tra, đánh giá, đề xuất khung hướng dẫn áp dụng, đánh giá việc thực hiện kinh tế tuần hoàn đối với một số ngành công nghiệp năng lượng

Nhiệm vụ chuyển tiếp

Phòng chủ trì

Đang xây dựng kế hoạch chi tiết năm 2026, phê duyệt lựa chọn nhà thầu và thực hiện thủ tục trình lãnh đạo Viện phê duyệt.

 

Bảng 3. Danh mục nhiệm vụ, đề tài đề xuất mở mới và nhiệm vụ tham mưu

TT

Tên nhiệm vụ/đề xuất

Loại hình

Tình trạng

Ý nghĩa chính

1

Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất việc hoàn thiện phương thức quản lý theo mô hình tổ chức mới, ứng dụng công nghệ để xây dựng công cụ hỗ trợ ra quyết định trong quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo theo không gian

Đề xuất đề tài KHCN cấp Bộ mở mới năm 2027

Đã được Hội đồng cấp cơ sở thông qua

Gắn với định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo không gian, ứng dụng công nghệ hỗ trợ ra quyết định.

2

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất khung quản lý và kiểm soát kháng sinh và gen kháng kháng sinh trong môi trường đất, nước theo cách tiếp cận Một sức khỏe

Đề xuất đề tài KHCN cấp Bộ mở mới năm 2027

Đã được Hội đồng cấp cơ sở thông qua

Mở rộng hướng nghiên cứu về rủi ro môi trường mới nổi, gắn môi trường với sức khỏe cộng đồng.

3

Đề xuất nhiệm vụ thuộc Bài toán lớn số 25 theo Quyết định 287

Nhiệm vụ phối hợp

Đã đề xuất và lồng ghép vào thuyết minh do Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chủ trì

Tăng cường phối hợp nghiên cứu, tham gia các chương trình khoa học công nghệ lớn.

4

Giúp việc cho Tổ sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020 của Viện

Nhiệm vụ đột xuất do Lãnh đạo Viện giao

Đang thực hiện

Tham gia tra cứu tài liệu, đề xuất nhiệm vụ phục vụ sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020, góp phần tham mưu chính sách.

 

  1. Thành tựu trong hợp tác quốc tế, dịch vụ và tham mưu chính sách

Bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, Phòng đã tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường. Phòng đã phối hợp với Tổ thư ký WEPA hoàn thiện các tài liệu chuẩn bị cho Meeting WEPA lần thứ 20, bao gồm báo cáo WEPA Outlook 2024 và các tài liệu khác theo đề nghị của Tổ thư ký. Đây là hoạt động góp phần duy trì kết nối chuyên môn quốc tế, cập nhật kinh nghiệm quản lý môi trường nước và tạo tiền đề đề xuất các nhiệm vụ, dự án hợp tác trong giai đoạn tiếp theo.

Trong lĩnh vực dịch vụ, tư vấn khoa học và công nghệ, Phòng đã chủ động đề xuất một số dự án, nhiệm vụ tư vấn cho các địa phương để thực hiện trong giai đoạn 2025-2026. Hoạt động này phù hợp với chức năng thực hiện dịch vụ, tư vấn khoa học và công nghệ về môi trường, biển và hải đảo; đồng thời góp phần gắn kết kết quả nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của các địa phương, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Về tham mưu chính sách, Phòng đã thể hiện vai trò chủ động thông qua việc đề xuất các đề tài, nhiệm vụ mở mới và tham gia các nhiệm vụ đột xuất do Lãnh đạo Viện giao. Việc Phòng làm đầu mối giúp việc cho Tổ sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020 của Viện cho thấy năng lực tham gia vào các vấn đề chính sách lớn, đòi hỏi sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và đề xuất giải pháp quản lý.

  1. Định hướng phát triển

Các kết quả đã đạt được cho thấy Phòng Kinh tế và Quản lý môi trường, biển và hải đảo đã và đang khẳng định vai trò là một đơn vị nghiên cứu, tư vấn và tham mưu chính sách có tính liên ngành cao. Các nhiệm vụ về cải tạo, phục hồi môi trường bãi chôn lấp chất thải rắn; kiểm toán môi trường; phòng ngừa, ứng phó sự cố chất thải; đánh giá khả năng chịu tải môi trường đầm phá; kinh tế tuần hoàn trong ngành công nghiệp năng lượng; hợp tác công tư trong phục hồi nguồn nước; thị trường sản phẩm tái chế và ngân hàng chất thải đã tạo nên chuỗi sản phẩm nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn.

Trong thời gian tới, Phòng tiếp tục định hướng phát triển các nhóm nghiên cứu gắn với yêu cầu quản lý hiện đại, bao gồm: kinh tế biển xanh, phát triển bền vững môi trường, biển và hải đảo; quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển theo không gian; công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; kiểm toán môi trường, kiểm toán chất thải; kinh tế tuần hoàn; lượng giá tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái; lượng giá thiệt hại và bồi thường thiệt hại về môi trường, hạch toán tài nguyên, hạch toán tài khoản đại dương; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT và chuyển đổi số trong quản lý môi trường, biển và hải đảo.

Với đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm trong nghiên cứu, điều tra, xây dựng chính sách và triển khai nhiệm vụ thực tiễn, Phòng Kinh tế và Quản lý môi trường, biển và hải đảo có tiềm năng tiếp tục đóng góp quan trọng vào sự phát triển của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, biển và hải đảo, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.