Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu số 37, tháng 3/2026

Tải bìa Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu số 37: TẠI ĐÂY

STT

Tên bài, tóm tắt, từ khóa

Số trang

1.       

Thông báo

Tải file bài viết: Tại đây

1

2.       

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN, HẢI VĂN VÀ CÔNG TÁC DỰ BÁO THỦY VĂN, HẢI VĂN TRONG MÙA LŨ NĂM 2025

Lương Hữu Dũng, Lê Quốc Huy, Ngô Thị Thủy, Văn Thị Hằng,
Phạm văn Tiến, Đặng Thị  Lan Phương
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển

Ngày nhận bài: 2/2/2026; ngày chuyển phản biện: 2/2/2026; ngày chấp nhận đăng: 15/3/2026

Tóm tắt: Mùa lũ năm 2025 được đánh giá là một trong những năm ghi nhận diễn biến thiên tai khốc liệt và phức tạp, đặc biệt là lũ, bão, lũ quét và sạt lở đất, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và cơ sở hạ tầng trên nhiều vùng của cả nước. Các hình thái thời tiết cực đoan, nhiều đợt mưa lớn với cường suất cao, phạm vi hẹp nhưng tập trung đã xuất hiện dồn dập, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, lũ ống tại khu vực miền núi và trung du. Trong khi đó, các hệ thống sông lớn như sông Hồng và sông Kôn liên tiếp xuất hiện lũ cao, có thời điểm vượt lũ lịch sử tại một số trạm.

Hoạt động bão và áp thấp nhiệt đới trong năm 2025 cho thấy xu thế gia tăng về cường độ và mức độ nguy hiểm, với nhiều cơn bão mạnh, quỹ đạo phức tạp, gây mưa rất lớn trên đất liền, kết hợp với nước dâng, sóng lớn và triều cường tại khu vực ven biển. Hệ quả là nhiều khu vực hạ du, đô thị và vùng trũng thấp chịu ngập sâu, kéo dài; các lưu vực sông dốc xuất hiện lũ lên nhanh, rút chậm, vượt xa khả năng ứng phó của cộng đồng địa phương.

Chế độ triều tại Việt Nam rất đa dạng, phân hóa rõ rệt theo từng khu vực bờ biển từ Bắc xuống Nam. Chế độ sóng chịu tác động chính của gió mùa và bão, chiều cao sóng lớn nhất trong bão 8-10 m. Khu vực ảnh hưởng lớn nhất của nước dâng do bão là bờ biển Trung Bộ, nước dâng lớn nhất có thể đạt từ 1,5-2,5 m, gây ngập lụt tại một số khu vực ven biển của tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa.

Trong bối cảnh đó, công tác theo dõi, dự báo và cảnh báo sớm thủy văn – hải văn đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Việc tổng kết, phân tích đặc điểm thiên tai năm 2025 không chỉ nhằm phản ánh mức độ khắc nghiệt của các hiện tượng lũ bão, lũ quét đã xảy ra, mà còn góp phần đánh giá hiệu quả công tác dự báo, cảnh báo và rút ra các bài học khoa học phục vụ nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai trong những năm tiếp theo.

Từ khóa: Diễn biến mưa lũ năm 2025, dự báo lũ, lũ quét, hải văn.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136147

3

 

SOME OF HYDROLOGICAL AND OCEANOGRAPHIC CHARACTERISTICS AND FORECASTING ACTIVITIES IN FLOOD SEASON OF 2025

Luong Huu Dung, Le Quoc Huy, Ngo Thi Thuy, Van Thi Hang,
Pham Van Tien, Dang Thi Lan Phuong
Institute of Meteorology, Hydrology, Environment and Marine Sciences

Received: 2/2/2026; Accepted: 15/3/2026

Abstact: The 2025 flood season in Viet Nam was among the most severe and complex in recent decades, characterized by widespread flooding, tropical cyclones, flash floods, and landslides that resulted in significant loss of life and extensive damage to property and infrastructure. Extreme weather patterns, marked by a high frequency of localized, high-intensity rainfall events, significantly elevated the risk of flash floods in mountainous and midland regions. Concurrently, major river systems such as the Red River and Kôn River basins recorded successive high flood events, with water levels at several hydrological stations surpassing historical hydrological records.

Tropical cyclone activity in 2025 showed an increasing trend in both intensity and destructive potential, with several strong storms following complex tracks. These systems, coupled with storm surges and high astronomical tides, led to severe coastal inundation. Consequently, downstream regions, urban areas, and low-lying zones experienced deep and prolonged inundation, while steep river basins were affected by rapidly rising and slowly receding floods that exceeded local response capacities.

The tidal regime in Viet Nam is highly diverse and varies significantly along the coastline from north to south. Wave conditions are mainly influenced by monsoon winds and tropical cyclones, with maximum wave heights during storms reaching 8-10 m. The central coastal region remains the region most vulnerable to storm surges, where peak surge heights of 1.5-2.5 m caused extensive coastal flooding in Nghe An and Thanh Hoa provinces.

Under these conditions, hydrological and oceanographic monitoring, forecasting, and early warning systems played a critical role. This study synthesizes and analyzes the main characteristics of hydrometeorological hazards in 2025, evaluates the performance of forecasting and warning activities, and provides scientific insights to support the enhancement of disaster risk reduction and climate resilience in the coming years.

Keywords: Heavy rainfall in 2025, flood, flash floods, and oceanographic forecasting.

 

3.       

ẢNH HƯỞNG CỦA ENSO ĐẾN HẠN HÁN TRÊN LƯU VỰC SÔNG SREPOK

Nguyễn Văn Lâm(1),(2), Lương Văn Việt(3), Châu Nguyễn Xuân Quang(1), Lê Thị Thu Hà(1),(4)
(1)Viện Môi trường và Tài nguyên – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
(2)Trường Đại học Lâm Nghiệp – Phân hiệu tại tỉnh Đồng Nai
(3)Trường Đại học Công Nghiệp TP. Hồ Chí Minh
(4)Viện Công nghệ tiên tiến, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Ngày nhận bài: 6/7/2025; ngày chuyển phản biện: 7/7/2025; ngày chấp nhận đăng: 25/7/2025

Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định quy mô thời gian hạn và độ trễ giữa hiện tượng El Niño với hạn hán tại lưu vực Sông Srepok, từ đó hỗ trợ công tác dự báo và quản lý tài nguyên nước tại địa phương hiệu quả hơn. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm chỉ số Niño đại dương (ONI), chỉ số lượng mưa chuẩn hóa (SPI) và chỉ số dòng chảy chuẩn hóa (SSI) trong giai đoạn 1982-2023. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm tính toán các chỉ số hạn SPI và SSI, phân tích ảnh hưởng của ENSO đến hạn hán. Kết quả cho thấy SPI10 và SSI8 là các quy mô thời gian chịu tác động mạnh nhất từ ENSO, với giá trị trung bình của chỉ số hạn giữa năm La Niña và El Niño lần lượt là 1,49 và 1,58. ENSO ảnh hưởng có độ trễ trung bình đến lượng mưa là 2 tháng và dòng chảy là 3 tháng. Các pha El Niño thường đi kèm với hạn nghiêm trọng, xuất hiện từ cuối mùa mưa và kéo dài đến mùa khô, với tỷ lệ hạn rất khô chiếm trên 50%. Những phát hiện này khẳng định ảnh hưởng của ENSO đến hạn hán và cơ sở để cảnh báo sớm và quản lý hạn hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại lưu vực Sông Srepok.

Từ khóa: El Niño, hạn hán, chỉ số lượng mưa chuẩn hóa (SPI), chỉ số dòng chảy chuẩn hóa (SSI), chỉ số Niño đại dương (ONI).

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136149

19

 

THE IMPACT OF ENSO ON DROUGHT IN THE SREPOK RIVER BASIN

Nguyen Van Lam(1),(2), Luong Van Viet(3), Chau Nguyen Xuan Quang(1), Le Thi Thu Ha(1),(4)
(1)Institute of Environment and Resources – Vietnam National University Ho Chi Minh City
(2)Vietnam National University of Forestry – Dong Nai Campus
(3)Industrial University of Ho Chi Minh City
(4)Institute of Advanced Technology (Vietnam Academy of Science and Technology)

Received: 6/7/2025; Accepted: 25/7/2025

Abstract: This study aims to evaluate drought temporalities and the lag effects between the El Niño-Southern Oscillation (ENSO) and drought occurrence in the Srepok River Basin, thereby supporting more effective local water resource forecasting and management. The dataset comprises the Oceanic Niño index (ONI), the Standardized Precipitation Index (SPI), and the Standardized Streamflow Index (SSI) for the period 1982-2023. The methodological framework encompasses calculating SPI and SSI drought indices and analyzing the influence of ENSO on drought. Results indicate that the 10-month SPI (SPI-10) and the 8-month SSI (SSI-8) are the timescales most sensitive to ENSO forcing, with mean index discrepancies of 1.49 and 1.58 between La Niña and El Niño years, respectively. ENSO impacts exhibit an average lag of two months for precipitation and three months for streamflow. El Niño phases are often associated with severe droughts that begin at the end of the rainy season and extend into the dry season, with the proportion of extremely dry conditions exceeding 50%. These findings underscore the ENSO-drought teleconnection and provide a basis for early warning and effective drought management in the context of climate change in the Srepok River Basin.

Keywords: El Niño, drought, Standardized Precipitation Index (SPI), Standardized Streamflow Index (SSI), Oceanic Niño index (ONI).

 

4.       

THỬ NGHIỆM DỰ BÁO DÔNG SỬ DỤNG CHỈ SỐ KHÍ QUYỂN TỪ MÔ HÌNH WRF TẠI KHU VỰC ĐÔNG NAM TỈNH VĨNH LONG

Phạm Thanh Long, Võ Thị Nguyên, Lê Xuân Hòa, Ngô Hồ Hà My, Trần Đình Quốc
Phân Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển

Ngày nhận bài: 8/10/2025; ngày chuyển phản biện: 9/10/2025; ngày chấp nhận đăng: 22/12/2025

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng nhận diện và dự báo dông tại khu vực Đông Nam tỉnh Vĩnh Long dựa trên các chỉ số bất ổn định đối lưu được tính từ trường khí tượng của mô hình WRF (Weather Research and Forecasting). Các chỉ số bao gồm năng lượng tiềm năng đối lưu sẵn có (CAPE), ức chế đối lưu (CIN), chỉ số K (KI), chỉ số Boyden và chỉ số Total Totals (Totalx). Dữ liệu được xây dựng từ sáu đợt mưa trong giai đoạn 2021-2023, kết hợp với quan trắc sét từ mạng ENTLN, trong đó cả sét trong mây và sét đánh xuống đất đều được sử dụng để phân loại thời điểm có dông và không dông. Nghiên cứu tiến hành xác định ngưỡng phù hợp cho từng chỉ số thông qua phân tích thống kê và thử nghiệm 100 giá trị ngưỡng cho mỗi chỉ số. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm xác suất phát hiện (POD), tỷ lệ báo động giả (FAR), chỉ số CSI, điểm kỹ năng Heidke (HSS) và đặc biệt là chỉ số TSS được dùng làm tiêu chí lựa chọn ngưỡng tối ưu. Sau đó, các ngưỡng được kiểm chứng bằng tập dữ liệu độc lập để đánh giá tính ổn định và khả năng tổng quát hóa. Kết quả cho thấy CAPE là chỉ số hiệu quả và ổn định nhất, đặc biệt tại các vùng Đông Bắc và Tây Bắc. Chỉ số Boyden thể hiện vai trò hỗ trợ, trong khi KI và Totalx kém hiệu quả hơn do tỷ lệ báo động giả cao. Khi kiểm chứng với dữ liệu độc lập, hầu hết các chỉ số giảm kỹ năng dự báo, phản ánh hạn chế của phương pháp sử dụng ngưỡng cố định. Nghiên cứu khẳng định cần kết hợp đa chỉ số và bổ sung các phương pháp hiện đại như hồi quy logistic hoặc mô hình học máy nhằm nâng cao tính ổn định và hiệu quả của hệ thống cảnh báo dông phục vụ dự báo nghiệp vụ.

Từ khóa: Mô hình WRF, dự báo dông, chỉ số bất ổn định đối lưu, Đông Nam tỉnh Vĩnh Long.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136152

31

 

THUNDERSTORM FORECASTING USING WRF-DERIVED ATMOSPHERIC STABILITY INDICES IN SOUTHEASTERN VINH LONG PROVINCE

Pham Thanh Long, Vo Thi Nguyen, Le Xuan Hoa, Ngo Ho Ha My, Tran Dinh Quoc
Sub-Institute of Meteorology, Hydrology, Environment and Marine Sciences

Received: 8/10/2025; Accepted: 22/12/2025

Abstract: This study aims to evaluates the capability of identifying and forecasting thunderstorms in the Southeastern region of Vinh Long Province based on atmospheric stability indices derived from the Weather Research and Forecasting (WRF) model outputs. The analyzed indices include Convective Available Potential Energy (CAPE), Convective Inhibition (CIN), the K Index (KI), the Boyden Index, and the Total Totals Index (TT). The dataset comprises six rainfall events during the period 2021-2023, integrated with lightning observations from the ENTLN network, in which both intracloud (IC) and cloud-to-ground (CG) lightning flashes were utilized to distinguish between thunderstorm and non-thunderstorm conditions. The study determines suitable thresholds for each index through statistical analysis and testing of 100 candidate thresholds per index. Evaluation metrics include the Probability of Detection (POD), False Alarm Ratio (FAR), Critical Success Index (CSI), Heidke Skill Score (HSS), and particularly the True Skill Statistic (TSS), which is employed as the primary criterion for selecting optimal thresholds. These thresholds were subsequently cross-validated using an independent dataset to assess their stability and generalization capability. The results indicate that CAPE is the most effective and stable index, especially in the Northeastern and Northwestern sub-regions. The Boyden Index provides additional predictive skill, whereas the KI and TT perform less effectively due to high false-alarm rates. When evaluated with independent data, most indices exhibit reduced forecast skill, highlighting the limitations of using fixed thresholds approaches for convective forecasting.

The study emphasizes the need to combine multiple indices and incorporate modern approaches such as logistic regression or machine-learning models to enhance the stability and effectiveness of thunderstorm warning systems for operational forecasting.

Keywords: WRF model, thunderstorm forecasting, convective instability indices, Southeastern Vinh Long Province.

 

5.       

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÍCH HỢP MÔ HÌNH VẬT LÝ VỚI CÁC NGUỒN DỮ LIỆU MỞ PHỤC VỤ CẢNH BÁO SẠT LỞ ĐẤT THEO THỜI GIAN THỰC: THÍ ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÁT XÁT (CŨ), TỈNH LÀO CAI

Trần Văn Tú(1), Trần Bảo Chung(1), Trần Anh Phương(1), Nguyễn Anh Đức(1), Vũ Đăng Tiếp(2)(1)Viện Khoa học tài nguyên nước
(2)Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường

Ngày nhận bài: 11/5/2025; ngày chuyển phản biện: 12/5/2025; ngày chấp nhận đăng: 05/6/2025

Tóm tắt: Trong những năm vừa qua, sạt lở đất có xu hướng diễn biến theo hướng ngày càng nhiều và nghiêm trọng hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt là ở các khu vực vùng núi có địa hình dốc, bị chia cắt mạnh như huyện Bát Xát (cũ), tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, công tác cảnh báo sạt lở đất ở các khu vực này gặp nhiều khó khăn do thiếu các nguồn dữ liệu đầu vào cho các mô hình cảnh báo. Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận tích hợp mô hình vật lý TRIGRS với các nguồn dữ liệu mở để phục vụ công tác cảnh báo sạt lở đất trên địa bàn huyện Bát Xát (cũ). Các nguồn dữ liệu mở được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm dữ liệu mưa vệ tinh CHIRPS, độ ẩm SMAP, địa hình, thành phần đất (cát, sét, hữu cơ). Từ dữ liệu thành phần đất, các đặc trưng thủy lực và cơ học của đất, yếu tố đầu vào rất quan trọng trong mô phỏng sạt lở đã được xác định. Đặc biệt, nghiên cứu đã tính toán được độ dày lớp đất nhờ kết hợp dữ liệu khảo sát thực địa bằng radar xuyên đất với độ dốc địa hình. Kết quả tính toán, mô phỏng cho trận lũ từ ngày 05/09/2024 đến 09/9/2024 cho thấy cách tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu này cho độ chính xác tương đối cao. Chỉ số diện tích dưới đường cong (AUC), đạt giá trị 0,841, cho thấy khả năng phân biệt nguy cơ sạt lở ở mức độ cao. Đối chiếu với 157 điểm sạt lở thực tế được ghi nhận, mô hình đã dự báo chính xác 82 điểm (Tỷ lệ dương tính thực – TPR = 52,23%). Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của mô hình TRIGRS trong việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm sạt lở đất tại các khu vực miền núi còn hạn chế về dữ liệu quan trắc truyền thống.

Từ khóa: Sạt lở đất, mô hình vật lý, mô hình Trigrs, dữ liệu mở, cảnh báo sớm.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136155

43

 

STUDY ON THE INTEGRATION POTENTIAL OF PHYSICAL MODELS WITH OPEN DATA SOURCES FOR LANDSLIDE EARLY WARNING: A PILOT IN THE former BAT XAT DISTRICT, LAO CAI PROVINCE

Tran Van Tu(1), Tran Bao Chung(1), Tran Anh Phuong(1), Nguyen Anh Duc(1), Vu Dang Tiep(2)(1)Water Resources Institute
(2)Institute of Strategy and Policy on Agriculture and Environment

Received: 11/5/2025; Accepted: 05/6/2025

Abstract: In recent years, landslides have become increasingly frequent and severe, causing significant losses in both human lives and property, particularly in mountainous areas with steep, highly fragmented terrain such as Bat Xat District (former), Lao Cai Province. However, landslide early warning efforts in these areas face many challenges due to a lack of input data for warning models. This study proposes an integrated approach that combines the TRIGRS physical model with open datasets to support landslide early warning in Bat Xat District (former). The open data sets used in the study include CHIRPS satellite rainfall data, SMAP soil moisture, topography, and soil composition (sand, clay, organic matter). Based on soil composition, key hydraulic and mechanical soil parameters required for landslide simulation were derived. Notably, soil layer thickness was estimated by integrating ground-penetrating radar (GPR) field survey data with terrain slope information. The model was applied to simulate landslide conditions during the flood event from 5 to 9 September 2024. The results show that the proposed approach achieves relatively high predictive performance, with an area under the curve (AUC) score reached 0.841, indicating strong discrimination of landslide susceptibility. Compared to 157 actual recorded landslide points, the model accurately predicted 82 points (True Positive Rate, TPR = 52.23%). These results demonstrate the potential application of the TRIGRS model in developing early warning systems for landslides in mountainous areas with limited access to traditional observational data.

Keywords: Landslide, physical modeling, TRIGRS model, open datasets, early warning system.

 

6.  

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SỨC CHỊU TẢI SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG KHU VỰC BẾN LỨC, TỈNH TÂY NINH

Nguyễn Văn Hồng(1), Phạm Ánh Bình(1), Nguyễn Thị Thu Hằng(2),
Châu Thanh Hải(1), Trần Minh Sơn(1)
(1)Phân Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển
(2)Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM

Ngày nhận bài: 2/10/2025; ngày chuyển phản biện: 3/10/2025; ngày chấp nhận đăng: 4/11/2025

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá diễn biến chất lượng nước sông và tính toán sức chịu tải các chất ô nhiễm trên Sông Vàm Cỏ Đông, khu vực Bến Lức tỉnh Tây Ninh. Phương pháp đánh giá dựa theo Thông tư 76/2017/BTNMT kết hợp với mô hình lan truyền chất ô nhiễm MIKE 11 được sử dụng để đánh giá sức chịu tải các chất ô nhiễm Sông Vàm Cỏ Đông. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn nước Sông Vàm Cỏ Đông vẫn còn khả năng tiếp nhận các thông số NO2– (2.991,61 kg/ngày) và Tổng P (2.280,33 kg/ngày) nhưng không còn khả năng tiếp nhận đối với các thông số COD, BOD5, NH4+. Tổng N chủ yếu do tác động từ nước thải chăn nuôi và sinh hoạt của dân cư sống ven sông. Kết quả này là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà quản lý môi trường đề xuất và triển khai các giải pháp kiểm soát nguồn thải, góp phần bảo vệ chất lượng nước, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và hướng tới phát triển bền vững.

Từ khóa: Chất lượng nước, sức chịu tải, Sông Vàm Cỏ Đông, mô hình MIKE.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136157

55

 

RESEARCH ON ASSESSMENT OF LOADING CAPACITY OF VAM CO DONG RIVER IN BEN LUC AREA, TAY NINH PROVINCE

Nguyen Van Hong(1), Pham Anh Binh(1), Nguyen Thi Thu Hang(2),
Chau Thanh Hai(1), Tran Minh Son(1)
(1)Sub-Institute of Meteorology, Hydrology, Environment and Marine Sciences
(2)Department of Environment, University University of Science-VNUHCM, HCM City

 Received: 2/10/2025; Accepted: 4/11/2025

Abstract: This study evaluates water quality dynamics and quantifies the pollutant assimilative capacity of the Vam Co Dong River in Ben Luc area, Tay Ninh Province. The assessment framework was aligned with Circular 76/2017/BTNMT,  integrated with the MIKE 11 hydrodynamic and water quality model to simulate pollutant transport. The findings indicate that the Vam Co Dong River retains a residual assimilative capacity for NO2– (2,991.61 kg/day) and Total P (2,280.33 kg/day). However, the river has reached its saturation point for COD, BOD₅, NH₄⁺, and Total Nitrogen, primarily driven by untreated livestock and domestic wastewater from riparian communities. These results serve as a robust scientific foundation for environmental authorities to propose and implement effective source control strategies, thereby safeguarding water quality, ensuring public health, and promoting sustainable regional development.

Keywords: Water quality, assimilative capacity, Vam Co Dong River, MIKE 11 model.

 

7.  

ĐÁNH GIÁ XU THẾ THAY ĐỔI THÀNH PHẦN HÓA HỌC NƯỚC HỒ HÒA BÌNH DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA LẮNG ĐỌNG AXIT, GIAI ĐOẠN 2000-2024

Doãn Hà Phong(1), Ngô Thị Vân Anh(1), Vũ Xuân Hùng(1),
Nguyễn Thị Kim Anh(1), Nguyễn Thị Hằng Nga(1), Lê Văn Linh(2)
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển
(2)Viện Khoa học Tài nguyên nước

Ngày nhận bài: 5/11/2025; ngày chuyển phản biện: 6/11/2025; ngày chấp nhận đăng: 21/11/2025

Tóm tắt: Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá xu thế axit hóa và biến đổi thành phần hóa học nước hồ Hòa Bình theo thời gian trong bối cảnh lắng đọng axit. Với chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước hồ Hòa Bình 25 năm (2000-2024) trong khuôn khổ hoạt động của Mạng lưới giám sát lắng đọng axit vùng Đông Á (EANET), xu thế axit hóa và biến đổi chất lượng nước hồ Hòa Bình được đánh giá thông qua phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Seasonal Mann-Kendall đối với các ion chính bao gồm pH, H+, EC, độ kiềm, SO42-, NO3 Cl-, NH4+, Na+, K+, Ca2+, Mg2+. Kết quả chỉ ra rằng pH/H+, Cl và Ca2+ không có xu thế rõ ràng, tuy nhiên độ kiềm, EC, Mg2+, NH4+ và SO42- có xu thế giảm, trong khi đó Na+, K+, NO3- lại có xu hướng tăng. Đồng thời, kết quả phân tích tương quan giữa xu thế thay đổi thành phần hóa học nước hồ Hòa Bình và xu thế lắng đọng axit ướt (LĐƯ) tại trạm Hòa Bình chỉ ra rằng hồ Hòa Bình không bị axit hóa mặc dù nồng độ ion NO3 có xu hướng tăng từ lắng đọng axit nhưng được trung hòa do độ kiềm lớn của nước hồ Hòa Bình.

Từ khóa: Hồ Hòa Bình, thành phần hóa học của nước, lắng đọng axit, xu thế, Seasonal Mann-Kendall.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136158

67

 

ASSESSING THE WATER CHEMISTRY TREND OF HOA BINH RESERVOIR UNDER THE IMPACT OF ACID DEPOSITION IN PERIOD 2000-2024

Doan Ha Phong(1), Ngo Thi Van Anh(1), Vu Xuan Hung(1),
Nguyen Thi Kim Anh(1), Nguyen Thi Hang Nga(1), Le Van Linh(2)
(1)The Viet Nam Institute of Meteorology Hydrology, Environment and Marine Sciences
(2)The Water resources Institute

Received: 5/11/2025; Accepted: 21/11/2025

Abstract: This study aims to assess acidification trends and water chemistry dynamics of the Hoa Binh Reservoir under the influence of acid deposition. Based on a 25-year (2000-2024) water quality monitoring dataset from the Acid Deposition Monitoring Network in East Asia (EANET), trends in acidification and key hydrochemical parameters (pH, H⁺, EC, alkalinity, SO₄²⁻, NO₃⁻, Cl⁻, NH₄⁺, Na⁺, K⁺, Ca²⁺, and Mg²⁺) were analyzed using the non-parametric Seasonal Mann-Kendall test. The results indicate no significant trends in pH, H⁺, Cl⁻, and Ca²⁺; decreasing trends in alkalinity, EC, Mg²⁺, NH₄⁺, and SO₄²⁻; and increasing trends in Na⁺, K⁺, and NO₃⁻. Correlation analysis between water chemistry and wet deposition at the Hoa Binh monitoring station indicates that no acidification has occurred. Although NO₃⁻ concentrations have increased in association with acid deposition, the high alkalinity of the reservoir effectively neutralizes acidic inputs.

Keywords: Hoa Binh Reservoir, water chemistry, acid deposition, trend, Seasonal Mann-Kendall.

 

8.  

XÁC ĐỊNH ĐẶC TRƯNG Ô NHIỄM VI NHỰA TRONG MẪU NƯỚC MẶT VÀ CỘT NƯỚC TRONG MÙA KHÔ TẠI CỬA SÔNG HÀN (ĐÀ NẴNG)

Nguyễn Thị Thanh Hoài(1), Tạ Lê Đăng Khôi(2), Vũ Thị Thu Vân(3),
Đàm Văn Vệ(4), Trần Thị Thu Hương(5)
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển
(2)Trung tâm thực nghiệm thực hành, Trường Đại học Nha Trang
(3)Trung tâm ứng phó sự cố môi trường Việt Nam
(4)Trung tâm quan trắc môi trường miền Bắc
(5)Khoa Môi trường, Trường Đại học Mỏ – Địa chất

Ngày nhận bài: 4/9/2025; ngày chuyển phản biện: 5/9/2025; ngày chấp nhận đăng: 26/11/2025

Tóm tắt: Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định đặc điểm ô nhiễm vi nhựa trong các mẫu nước mặt và cột nước vào mùa khô năm 2024 tại cửa sông Hàn (Đà Nẵng). Tổng cộng 8 mẫu nước mặt và 8 mẫu nước cột đã được thu thập và phân tích. Đặc trưng ô nhiễm về mật độ, hình dạng, màu sắc, kích thước và dạng polyme của vi nhựa được xác định bằng phương pháp kính hiển vi soi nổi và quang phổ hồng ngoại FTIR. Kết quả cho thấy vi nhựa có mặt ở hầu hết các vị trí lấy mẫu và mật độ vi nhựa trong nước mặt cao hơn so với cột nước. Ô nhiễm vi nhựa giữa hai nhóm mẫu là không đồng nhất, dao động từ 0 đến 28 MP/L trong nước mặt và từ 0 đến 16 MP/L trong các mẫu cột nước. Dạng mảnh và sợi vi nhựa có kích thước nhỏ hơn chiếm ưu thế. Màu trắng là màu phổ biến nhất, tiếp theo là xanh lam, xanh lục, đỏ và các màu khác. Có 6 loại polyme với tổng số MPs/L là 116 và 48 MPs/L đã được ghi nhận trong các mẫu nước như PET (Polyethylene terephthalate), Nylon, Polyester… Trong đó, PET và nylon là loại polyme chiếm ưu thế nhất trong các mẫu nước mặt và mẫu cột nước với các giá trị lần lượt là 51,72; 34,48% và 16,67; 25%. Các loại polyme khác được quan sát thấy không đồng đều giữa các vị trí với tỷ lệ thấp hơn. Những phát hiện này cung cấp dữ liệu cơ sở cho nghiên cứu về vi nhựa ở vùng cửa sông ven biển Nam Trung Bộ và hỗ trợ các nghiên cứu sâu hơn về độc tính cũng như tác động sinh thái của nhựa tới môi trường cửa sông trong tương lai.

Từ khóa: Ô nhiễm vi nhựa, cửa sông Hàn, nước mặt, cột nước, đặc trưng phân bố.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136160

76

 

CHARACTERIZATION OF MICROPLASTIC CONTAMINATION
IN SURFACE WATER AND THE WATER COLUMN
OF THE HAN RIVER ESTUARY, VIET NAM

Nguyen Thi Thanh Hoai(1), Ta Le Dang Khoi(2), Vu Thi Thu Van(3),
Dam Van Ve(4), Tran Thi Thu Huong(5)
(1)Institute of Meteorology, Hydrology, Environment and Marine Sciences
(2)Center for Practical Experiment, Nha Trang University
(3)Vietnam Environmental Incident Response Center
(4)Northern Center for Environmental Monitoring
(5)Hanoi University of Mining and Geology

Received: 4/9/2025; Accepted: 26/11/2025

Abstract: This study aims to characterize microplastic (MP) contamination in surface water and water column samples collected during the 2024 dry season in the Han River Estuary (Da Nang, Viet Nam). A total of 16 samples (8 from surface water and 8 from the water column) were collected and analyzed. The physical and chemical properties of the MPs, including abundance, morphology, color, size distribution, and polyme composition, were identified using stereo-microscopy and Fourier Transform Infrared (FTIR) spectroscopy. The results reveal that microplastics were ubiquitous across nearly all sampling sites, with MP densities in surface water consistently exceeding those in the water column. Contamination levels exhibited significant spatial heterogeneity, ranging from 0-28 MPs/L in surface water and 0-16 MPs/L in the water column. Small-sized fragments and fibers were the dominant morphotypes. White was the most prevalent color, followed by blue, green, and red. Six distinct polyme types were identified, with total concentrations of 116 MPs/L and 48 MPs/L recorded in the respective layers. Among these, Polyethylene terephthalate (PET) and Nylon were the most abundant, accounting for 51.72% and 34.48% in surface water, and 16.67% and 25% in the water column, respectively. These findings establish a critical baseline for microplastic research in South-Central Viet Namese estuaries and provide a foundation for future assessments of the toxicological and ecological risks posed by plastic debris in estuarine environments.

Keywords: Microplastic pollution, Han River estuary, water surface, water column, distribution characteristics.

 

9.  

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÁCH NƯỚC BÙN ĐÁY Hồ Tây
BẰNG POLYME ĐIỆN TÍCH DƯƠNG

Đỗ Khắc Uẩn(1), Trần Đắc Chí(2), Hoàng Thị Thu Hương(1)
(1)Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội;
(2)Công ty CP Tư vấn EPRO

Ngày nhận bài: 13/5/2025; ngày chuyển phản biện: 14/5/2025; ngày chấp nhận đăng: 06/6/2025

Tóm tắt: Lớp bùn đáy ở Hồ Tây thường có độ dày từ 0,6 đến 1,2 m. Bùn đáy chứa các chất độc hại ảnh hưởng đến chất lượng nước hồ và các sinh vật sống. Bùn thải từ hồ phải được xử lý sơ bộ và tách nước trước khi vận chuyển đến bãi thải theo quy định. Trong nghiên cứu này, hai loại polyme điện tích dương (KP206BH2 và FLOPAM FO 4240SH) đã được sử dụng (với liệu lượng từ 100-500 mg/L) để đánh giá khả năng tách nước từ bùn đáy của Hồ Tây. Kết quả cho thấy hai loại polyme KP206BH2 và polyme FLOPAM FO 4240SH đều tăng hiệu quả tách nước. Polymer KP206BH2 cho hiệu quả tách nước ra tốt hơn so polymer FLOPAM FO 4240SH. Polymer KP206BH2 cũng có khả năng làm giảm COD, TN, TP tốt hơn so với polymer FLOPAM FO 4240SH. Do đó,  polyme cation có thể sử dụng để tách nước bùn từ ao hồ.

Từ khóa: Bùn đáy, keo tụ tạo bông, xử lý nước thải, polyme cationic, tách nước.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136162

85

 

EFFICIENCY OF CATIONIC POLYMERS IN THE DEWATERING OF BENTHIC SEDIMENTS: A CASE STUDY OF WEST LAKE

Do Khac Uan(1), Tran Dac Chi(2), Hoang Thi Thu Huong(1)
(1)School of Chemistry and Life Sciences, Hanoi University of Science and Technology
(2)EPRO Consulting Joint Stock Company

Received: 13/5/2025; Accepted: 06/6/2025

Abstract: The benthic sediment layer in West Lake typically exhibits a thickness ranging from 0.6 to 1.2 m. This sediment harbors harmful substances that impair water quality and aquatic organisms, necessitating regular removal and pretreatment. According to environmental regulations, discharged sludge must undergo dewatering to minimize leachate volume prior to transportation to designated disposal sites. In this study, two cationic polyelectrolytes (KP206BH2 and FLOPAM FO 4240SH) were evaluated at dosages ranging from 100 to 500 mg/L to assess their efficacy in enhancing the dewaterability of West Lake sludge. The results indicate that both KP206BH2 and FLOPAM FO 4240SH significantly enhanced dewatering efficiency. Specifically, KP206BH2 demonstrated superior performance in water separation compared to FLOPAM FO 4240SH. Furthermore, KP206BH2 showed a higher capacity for reducing COD, TN, and TP concentrations in the leachate Consequently, cationic polymers are highly suitable for the dewatering of sludge from ponds and lakes.

Keywords: Sludge dewatering, cationic polymer, flocculation, West Lake, wastewater treatment.

 

10.

ĐÁNH GIÁ DẤU CHÂN NƯỚC TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (LITOPENAEUS VANNAMEI) TẠI NGHỆ AN

Kim Minh Anh(1), Lê Thị Thảo Vy(2), Trần Thị Minh Khuê(2),
Nguyễn Thị Hạnh Tiên(3), Kim Văn Vạn(1), Hoàng Thị Thu Hương(2)

(1)Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
(2)Khoa KH&CN Môi Trường, Đại học Bách Khoa Hà Nội
(3)Trường Kỹ thuật Phenikaa, Đại học Phenikaa

Ngày nhận bài: 26/10/2025; ngày chuyển phản biện: 27/10/2025; ngày chấp nhận đăng: 26/11/2025

Tóm tắt: Tài nguyên nước ngọt đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Dấu chân nước được sử dụng như một công cụ khoa học nhằm đánh giá mức độ tiêu thụ nước trong các ngành sản xuất, phản ánh lượng nước sử dụng trực tiếp và gián tiếp. Việc đánh giá dấu chân nước trong nuôi trồng thủy sản có thể cung cấp dữ liệu khoa học về tác động của ngành đối với tài nguyên nước, đồng thời đề xuất các giải pháp tối ưu sử dụng nước, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá dấu chân nước trong nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) khu vực ven biển tại Nghệ An, một trong những địa phương nuôi trồng thủy sản trọng điểm của miền Trung Việt Nam. Phương pháp điều tra, khảo sát 27 cơ sở nuôi tôm thẻ tại 4 xã ven biển gồm Diễn Kim, Diễn Trung, Nghi Hương và Nghi Thu cung cấp thông tin về lượng nước và tỷ lệ các loại nước được sử dụng trong một vụ nuôi. Tổng dấu chân nước trung bình đạt 3,01±0,44 m3/kg tôm sau thu hoạch, nước xanh lam chiếm 58,16%, tiếp đến dấu chân nước xanh lá (23,90%) và dấu chân nước xám (17,94%). Những kết quả này góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý sử dụng tài nguyên nước và thúc đẩy phát triển nghề nuôi tôm theo hướng bền vững.

Từ khóa: Dấu chân nước, tôm thẻ chân trắng, Nghệ An, nuôi trồng thủy sản.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136163

94

 

EVALUATE WATER FOOTPRINT IN WHITE-LEG SHRIMP (LITOPENAEUS VANNAMEI) FARMING IN NGHE AN

Kim Minh Anh(1), Le Thi Thao Vy(2), Tran Thi Minh Khue(2),
Nguyen Thi Hanh Tien(3), Kim Van Van(1), Hoang Thi Thu Huong(2)
(1)Faculty of Fisheries, Vietnam National University of Agriculture
(2)Department of Environmental Science and Technology, Hanoi University of Science and Technology
(3)Phenikaa University

Received: 26/10/2025; Accepted: 26/11/2025

Abstract: Freshwater resources are increasingly under pressure worldwide due to climate change and the growing demand for agricultural and aquaculture production. The Water Footprint (WF) is a widely used indicator for quantifying direct and indirect water consumption associated with production systems. Assessing the WF of aquaculture can provide insights into their impacts on water resources and supports the development of strategies to improve water-use efficiency and environmental sustainability. This study evaluates the WF of whiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) farming in coastal areas of Nghe An Province, one of the major aquaculture regions in Central Viet Nam. Data were collected from surveys of 27 shrimp farms located in four coastal communes-Dien Kim, Dien Trung, Nghi Huong, and Nghi Thu-to quantify total water use and the proportions of different water footprint components during the production cycle. The results show that the average total WF was 3.01 ± 0.44 m³ kg of harvested shrimp. The blue water footprint accounted for the largest share (58.16%), followed by the green water footprint (23.90%) and the gray water footprint (17.94%). These findings provide a scientific basis for improving water resource management and promoting sustainable shrimp aquaculture development.

Keywords: Aquaculture, whiteleg shrimp, Nghe An province, water footprint.

 

11. 

PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ THI VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NHẸ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Thành Công

Cục Biến đổi khí hậu

Ngày nhận bài: 1/12/2025; ngày chuyển phản biện: 2/12/2025; ngày chấp nhận đăng: 26/12/2025

Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính (KNK) theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), việc lựa chọn và áp dụng các công cụ mô hình hóa để đánh giá toàn diện tác động kinh tế – xã hội của các giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là yêu cầu cấp thiết. Bài báo này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nhóm mô hình chính thường được sử dụng trên thế giới và có tiềm năng áp dụng tại Việt Nam, bao gồm: mô hình cân bằng tổng thể (CGE), mô hình đánh giá tích hợp (IAM), mô hình cân bằng từng phần và mô hình kinh tế lượng. Nội dung bài báo tập trung phân tích sâu về nguyên lý, cấu trúc, ưu nhược điểm và khả năng ứng dụng của hai nhóm mô hình thường được ứng dụng rộng rãi nhất là CGE và IAM. Đặc biệt, bài báo làm rõ cách thức các mô hình CGE được sử dụng để phân tích các công cụ chính sách phức tạp như thị trường các-bon, thông qua việc tổng hợp các nghiên cứu điển hình trên thế giới. Một số mô hình như AIM, GEM cũng được giới thiệu để minh họa cho ứng dụng thực tiễn. Cuối cùng, bài báo thảo luận những thách thức về dữ liệu, năng lực kỹ thuật, các giả định mô hình và đề xuất định hướng nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng các công cụ này trong quá trình hoạch định chính sách khí hậu tại Việt Nam.

Từ khóa: Giảm nhẹ phát thải, tác động kinh tế – xã hội, mô hình cân bằng tổng thể (CGE), mô hình đánh giá tích hợp (AIM), thị trường các-bon.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136166

103

 

FEASIBILITY ANALYSIS AND APPLICATION ORIENTATION of MODELLING APPROACHES FOR ASSESSING THE SOCIO-ECONOMIC IMPACTS OF GREENHOUSE GAS MITIGATION MEASURES IN VIET NAM

Nguyen Thanh Cong

Department of Climate Change

Received: 1/12/2025; Accepted: 26/12/2025

Abstract: In the context of Viet Nam’s efforts to implement its international commitments on greenhouse gas (GHG) mitigation under its Nationally Determined Contribution (NDC), the selection and application of modeling tools to comprehensively assess the socio-economic impacts of measures on greenhouse gas mitigation is an urgent requirement. This paper provides an overview of the main modeling groups commonly used globally with potential for application in Viet Nam, including: Computable General Equilibrium (CGE) models, Integrated Assessment Models (IAMs), Partial Equilibrium models, and Econometric models. The paper focuses on a deep analysis of the principles, structure, advantages, disadvantages, and applicability of the two most powerful model groups, CGE and IAMs. In particular, the paper clarifies how CGE models are used to analyze complex policy instruments such as Emissions Trading Systems (ETS), by summarizing typical international studies. Some models like AIM and GEM are also introduced to illustrate practical applications. Finally, the paper discusses challenges related to data, technical capacity, model assumptions, and proposes orientations to enhance the effective use of these tools in the climate policy-making process in Viet Nam.

Keywords: GHG mitigation, socio-economic impact, Computable General Equilibrium (CGE) models, Integrated Assessment Models (IAMs), carbon market.

 

12.   

CƠ CHẾ ITMO TRONG THỎA THUẬN PARIS: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRIỂN KHAI
TẠI VIỆT NAM

Đặng Quang Thịnh, Nguyễn Thị Quỳnh Nga

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển

Ngày nhận bài: 3/12/2025; ngày chuyển phản biện: 4/12/2025; ngày chấp nhận đăng: 16/1/2026

Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 và giảm 43,5% lượng phát thải khí nhà kính (KNK) vào năm 2030 so với Kịch bản phát triển thông thường (BAU) trong Đóng góp quốc gia tự quyết định năm 2022 (NDC2), việc triển khai cơ chế Kết quả giảm nhẹ được chuyển giao quốc tế (ITMO) theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris là một công cụ để Việt Nam nâng cao tham vọng về khí hậu. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu để đánh giá các cơ hội và thách thức liên quan đến triển khai ITMO tại Việt Nam, tập trung vào ba khía cạnh chính: kinh nghiệm quốc tế, bối cảnh của Việt Nam và đề xuất các giải pháp. Phân tích các trường hợp từ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Nhật Bản, Đức, Ghana, Thái Lan và Zambia cho thấy các quốc gia này đã xây dựng khung pháp lý vững chắc, hệ thống đăng ký quốc gia, cơ chế điều chỉnh tương ứng (Corresponding Adjustment – CA) và sự tham gia của khu vực tư nhân, từ đó đảm bảo tính minh bạch, tránh tính kép và duy trì toàn vẹn môi trường. Tại Việt Nam, các cơ hội nổi bật bao gồm nền tảng pháp lý từ Luật Bảo vệ Môi trường 2020, Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Nghị định 119/2025/NĐ-CP, cùng kinh nghiệm từ các cơ chế Kyoto trước đây. ITMO có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, lâm nghiệp, nông nghiệp và quản lý chất thải, hỗ trợ huy động vốn quốc tế, chuyển giao công nghệ sạch và nâng cao vị thế trên thị trường các-bon toàn cầu. Tuy nhiên, các thách thức bao gồm thiếu quy định chi tiết về ủy quyền và CA, hạn chế về năng lực kỹ thuật, hạ tầng dữ liệu, nguồn nhân lực và tài chính. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể như hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV), và tăng cường hợp tác quốc tế để khắc phục những hạn chế này, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu đánh giá tính khả thi kinh tế-xã hội của các đề xuất trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng quốc gia.

Từ khoá: Cơ chế ITMO, khí nhà kính, Thỏa thuận Paris, thị trường các-bon, Việt Nam.

Tải file bài viết: Tại đây

DOI: https://doi.org/10.55659/2525-2496/37.136167

114

 

ITMO MECHANISM UNDER THE PARIS AGREEMENT: OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR IMPLEMENTATION IN VIET NAM

Dang Quang Thinh, Nguyen Thi Quynh Nga

Institute of Meteorology, Hydrology, Environment and Marine Sciences

Received: 3/12/2025; Accepted: 16/1/2026

Abstract: In the context of Viet Nam’s commitment to achieving net-zero emissions by 2050 and reducing greenhouse gas (GHG) emissions by 43.5% by 2030 compared to the Business-as-Usual (BAU) scenario in Nationally Determined Contribution in 2022 (NDC2), the implementation of the Internationally Transferred Mitigation Outcomes (ITMO) mechanism under Article 6 of the Paris Agreement constitutes an important tool for enhancing Viet Nam’s climate ambition. This study employs a synthesis and document analysis approach to evaluate opportunities and challenges associated with ITMO implementation in Viet Nam, focusing on three key sections: international experiences, Viet Nam’s domestic context, and proposed solutions. Some case studies from Switzerland, Sweden, Japan, Germany, Ghana, Thailand, and Zambia demonstrate show that these countries have established strong legal frameworks, national registries, corresponding adjustment (CA) mechanisms, and private sector participation. These elements ensure transparency, prevent double counting, and maintain environmental integrity. In Viet Nam, notable opportunities include the legal foundation provided by the Law on Environmental Protection 2020, Decree 06/2022/NĐ-CP, and Decree 119/2025/NĐ-CP, with experience gained from Kyoto Mechanisms. ITMO has significant potential in renewable energy, forestry, agriculture, and waste management, supporting international finance mobilization, clean technology transfer, and strengthening Viet Nam’s position in the global carbon market. However, there are some challenges such as the lack of detailed regulations on authorization and CA, and limitations in technical capacity, data infrastructure, human resources, and financial resources. This study will propose solutions like improving the legal framework, strengthening the measurement, reporting, and verification (MRV) system, and enhancing international cooperation to address these constraints, while emphasizing the need to assess the socio-economic feasibility of the proposed measures within the context of the national energy transition.

Keywords: ITMO mechanism, greenhouse gases, Paris Agreement, carbon market, Viet Nam.