Ngày 15/5 tại Hà Nội, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (VKTTVB), thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã tổ chức Hội thảo quốc tế “Ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khí tượng thủy văn, môi trường và biển: Thúc đẩy hợp tác Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp”. Sự kiện được tổ chức nhân dịp Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, đồng thời triển khai kế hoạch hoạt động IHP Việt Nam năm 2026.

Các đại biểu chụp ảnh toàn thể tại hội thảo
Hội thảo quy tụ nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý trong và ngoài nước đến từ các cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, môi trường, biến đổi khí hậu và khoa học biển. Trong đó, có sự tham dự của đại diện Đại sứ quán Kazakhstan tại Việt Nam, Cục Khí tượng Thủy văn, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Khí tượng Hàng không, Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam, Hiệp hội Tư vấn nâng cao sức khỏe Việt Nam, cùng nhiều chuyên gia quốc tế đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.

TS. Nguyễn Thị Thanh Hà phát biểu khai mạc hội thảo
Phát biểu khai mạc tại hội thảo, TS. Nguyễn Thị Thanh Hà, Phó Vụ trưởng, Vụ Khoa học Xã hội-Nhân văn và Tự nhiên (Bộ Khoa học và Công nghệ) nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của hội thảo trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Bà Hà nhận định rằng khi biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và ô nhiễm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp, các lĩnh vực khí tượng thủy văn, môi trường và khoa học biển đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có. Trong bối cảnh đó: Các công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), viễn thám và mô hình số tiên tiến đóng vai trò then chốt trong công tác dự báo, cảnh báo sớm và hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu. Hợp tác đa bên là điều kiện tiên quyết. Việc tối ưu hóa tiềm năng công nghệ đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa Chính phủ, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Hội thảo được kỳ vọng là diễn đàn để các chuyên gia trong và ngoài nước chia sẻ kinh nghiệm, tìm kiếm các giải pháp công nghệ đột phá cho tương lai.

Ngài Kanat Tumysh phát biểu tại hội thảo
Ngài Kanat Tumysh – Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Kazakhstan tại Việt Nam đã có bài phát biểu quan trọng tập trung vào các giải pháp ứng phó với thách thức môi trường toàn cầu. Đại sứ nhấn mạnh ứng dụng công nghệ và hợp tác đa phương là hai “chìa khóa” không thể tách rời để giải quyết các vấn đề cấp bách về khí hậu và môi trường hiện nay. Ông đặc biệt lưu tâm đến tình trạng khan hiếm và quản lý nguồn nước. Đồng thời, Đại sứ đã đưa ra các đề xuất về các sáng kiến quốc tế nhằm quản trị nguồn nước bền vững, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự chung. Ngài Đại sứ cũng chia sẻ những bài học thực tế từ Kazakhstan trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời đánh giá cao những nỗ lực và đóng góp tích cực của Việt Nam trong công tác bảo vệ môi trường và khẳng định tinh thần tiên phong và cam kết của Kazakhstan trong việc cùng Việt Nam và cộng đồng quốc tế thúc đẩy an ninh nguồn nước toàn cầu.
TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ KHCN, Bộ NNMT đã đánh giá cao nỗ lực của VKTTVB trong việc kết nối các chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước về trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo, gắn kết nhà quản lý-nhà khoa học và doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Văn Long phát biểu tại hội thảo
Vụ trưởng khẳng định các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), học máy, viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data), IoT, blockchain và mô hình số phân giải cao đang mở ra những cơ hội mới. Những giải pháp này đóng vai trò then chốt trong việc củng cố hệ thống dự báo, cải thiện giám sát môi trường, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và hỗ trợ thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Cơ quan quản lý (Chính phủ) – Viện nghiên cứu/Trường đại học – Doanh nghiệp cùng các đối tác quốc tế là yếu tố thiết yếu để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Việc đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số được khẳng định là hoàn toàn phù hợp với các định hướng phát triển quốc gia của Việt Nam cũng như các cam kết quốc tế về khả năng chống chịu và phát triển bền vững. Ông Long bày tỏ tin tưởng rằng những kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn được trao đổi tại hội thảo sẽ đóng góp ý nghĩa vào việc hợp tác nghiên cứu, xây dựng chính sách và nâng cao năng lực trong tương lai. Hội thảo sẽ trở thành nhịp cầu quan trọng để mở rộng mạng lưới nghiên cứu và thắt chặt quan hệ đối tác dài hạn.

TS. Lưu Anh Đức báo cáo tại hội thảo
Một trong những nội dung được quan tâm đặc biệt tại hội thảo là định hướng hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn Việt Nam đến năm 2045. Theo TS. Lưu Anh Đức, ngành khí tượng thủy văn đang chịu “áp lực kép” từ biến đổi khí hậu cực đoan và làn sóng công nghệ AI phát triển nhanh chóng. Ông chia sẻ lộ trình hiện đại hóa gồm ba giai đoạn chiến lược, tập trung vào xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, làm chủ công nghệ AI và hình thành hệ sinh thái dữ liệu khí hậu toàn diện. Đáng chú ý, mô hình “Triple Helix” (Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp) được xác định là nền tảng để huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực này.

Phó Giáo sư Changhyun Jun trình bày tại hội thảo
Trong lĩnh vực dự báo và quản lý rủi ro thiên tai, nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tiềm năng lớn của AI trong nâng cao chất lượng cảnh báo sớm. Phó Giáo sư Changhyun Jun (Đại học Korea, Hàn Quốc) trình bày các tiến bộ mới trong xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt bằng AI, kết hợp dữ liệu viễn thám và dữ liệu không gian địa lý nhằm xác định khu vực có nguy cơ ngập trước khi thiên tai xảy ra. Theo ông, các mô hình AI và học máy có khả năng mô phỏng tốt hơn các quá trình phi tuyến phức tạp của lũ lụt so với các phương pháp truyền thống, đồng thời mở ra hướng phát triển các hệ thống quản lý rủi ro ngập lụt thông minh trong tương lai.

Phó Giáo sư Đoàn Quang Văn Văn trình bày tại hội thảo
Nhiều tham luận quốc tế cũng tập trung vào xu hướng chuyển đổi từ hệ thống dự báo truyền thống sang “nền tảng trí tuệ khí hậu” phục vụ ra quyết định. Phó Giáo sư Đoàn Quang Văn Văn (Đại học Tsukuba, Nhật Bản) giới thiệu hệ thống HiClimaX – nền tảng mã nguồn mở tích hợp mô hình khí hậu độ phân giải cao với AI nhằm cung cấp thông tin khí hậu phục vụ xây dựng xã hội thích ứng và phát triển bền vững. Trong khi đó, Giáo sư Toshio Koike (ICHARM, Nhật Bản) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối dữ liệu khí hậu toàn cầu với quá trình ra quyết định ở quy mô địa phương, đặc biệt trong quản lý tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu.

PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ trình bày tại hội thảo
Không chỉ tập trung vào khí tượng thủy văn, hội thảo còn dành nhiều nội dung cho các vấn đề môi trường và khoa học biển. Các nhà khoa học cảnh báo ô nhiễm nhựa đại dương đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với hệ sinh thái ven biển và nền kinh tế biển. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Tài Tuệ và Lưu Việt Dũng (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội), năm 2021 Việt Nam phát sinh khoảng 2,93 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó khoảng 70 nghìn tấn bị rò rỉ ra môi trường nước. Các vi nhựa đã được phát hiện với mật độ cao trong nước biển, trầm tích và sinh vật biển tại nhiều khu vực ven biển Việt Nam.

TS. Phạm Văn Hiếu trình bày tại hội thảo
Nghiên cứu của TS. Phạm Văn Hiếu (VKTTVB) tiếp tục chỉ ra thực trạng vi nhựa tại sông Lạch Tray và khu vực Cát Bà, Hải Phòng. Kết quả khảo sát năm 2024 cho thấy các dòng sông đô thị dù có chất lượng nước tương đối tốt vẫn đang trở thành nguồn vận chuyển liên tục vi nhựa ra môi trường biển. Rác thải nổi tập trung với mật độ cao tại cửa vịnh và khu vực nuôi trồng thủy sản, phản ánh áp lực ngày càng gia tăng từ hoạt động du lịch, nuôi biển và tiêu dùng nhựa dùng một lần.

Phần trình bày của tác giả Trần Đăng Hùng
Một chủ đề khác được đánh giá có ý nghĩa thực tiễn lớn là ứng dụng viễn thám và AI trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Đăng Hùng và Đặng Quang Thịnh dự báo diện tích sinh cảnh chất lượng cao của loài đước đôi có thể suy giảm tới 45% vào năm 2070 dưới kịch bản phát thải cao và nước biển dâng. Các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng hành lang sinh thái và ưu tiên bảo vệ các vùng trú ẩn khí hậu nhằm duy trì khả năng chống chịu của hệ sinh thái ven biển.

Giáo sư Seung Hun Han trình bày tại hội thảo
Bên cạnh đó, hội thảo cũng giới thiệu nhiều giải pháp công nghệ tiên tiến phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn. Giáo sư Seung Hun Han (KAIST, Hàn Quốc) trình bày nền tảng dữ liệu tích hợp AIoT, blockchain và phân tích dữ liệu nhằm tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp, quản lý chất thải hữu cơ, đồng thời hỗ trợ xác thực tín chỉ carbon và tín chỉ nước. Các công nghệ cảm biến và AI được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và thúc đẩy mô hình phát triển xanh.

GS. Latif Kalin
GS. Latif Kalin – Phó Hiệu trưởng nghiên cứu Trường Lâm nghiệp, Động vật hoang dã và Môi trường (Đại học Auburn, Hoa Kỳ), đã trình bày tham luận về việc ứng dụng mô hình hóa để giải quyết ô nhiễm nguồn phân tán (NPS) – một thách thức lớn đối với quản lý tài nguyên nước tại khu vực Đông Nam Á và thế giới. Theo GS. Kalin, do tính chất khuếch tán và khó kiểm soát của ô nhiễm NPS (phát sinh từ dòng chảy nông nghiệp, đô thị, rừng), việc sử dụng các mô hình môi trường là giải pháp thiết yếu để: (i) Mô phỏng các quá trình thủy văn và địa hóa phức tạp mà thực nghiệm trực tiếp không thể thực hiện được; (ii) Dự báo phản ứng của hệ thống và đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý tốt nhất (BMPs); (iii) Hỗ trợ ra quyết định dựa trên việc tích hợp dữ liệu sử dụng đất, thủy văn và khí hậu. Tuy nhiên ông cũng khẳng định dù mô hình hóa là công cụ mạnh mẽ giúp các nhà quản lý xây dựng chính sách bảo vệ tài nguyên nước khoa học và bền vững, việc sử dụng chung một cách khôn ngoan là cần thiết.

GS. Hoàng Thẩm trình bày online tại hội thảo
Cũng tại hội thảo, GS. Hoàng Thẩm (Đại học Auburn, Hoa Kỳ) đã giới thiệu giải pháp đổi mới trong việc thiết lập tiêu chuẩn chất lượng nước đối với kim loại nặng. Ông nhấn mạnh rằng độc tính của kim loại đối với sinh vật thủy sinh phụ thuộc chặt chẽ vào các thông số môi trường như độ pH, độ cứng và carbon hữu cơ hòa tan (DOC). Thay vì áp dụng các tiêu chuẩn cố định, GS đề xuất phương pháp tiếp cận dựa trên khả năng hấp thụ sinh học (bioavailability) – một chiến lược đang được Mỹ và EU áp dụng hiệu quả. Thông qua các nghiên cứu thực tiễn trong 15 năm qua, ông khẳng định phương pháp này sẽ giúp Việt Nam bảo vệ môi trường chính xác và hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh quốc gia đang phát triển công nghiệp và kinh tế nhanh chóng.

PGS. TS. Phạm Thị Thanh Ngà phát biểu trong vai trò chủ trì hội thảo
Phát biểu bế mạc hội thảo, PGS. TS. Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng VKTTVB đã nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết đối với việc ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, viễn thám, Internet vạn vật (IoT), blockchain và mô hình số độ phân giải cao nhằm nâng cao năng lực dự báo, giám sát môi trường và quản trị rủi ro thiên tai. Kết thúc bài phát biểu, Viện trưởng gửi lời cảm ơn chân thành đến các chuyên gia, diễn giả trong và ngoài nước, đồng thời bày tỏ mong muốn tiếp tục duy trì và phát triển các dự án hợp tác trong thời gian tới.

