Để khoa học Trái đất trở thành “lá chắn” rủi ro cho tăng trưởng dài hạn

Đại hội XIV của Đảng sẽ tạo nền tảng để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực then chốt phát triển đất nước giai đoạn mới.

Trả lời phỏng vấn của Báo Nông nghiệp và Môi trường, PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) bày tỏ tin tưởng rằng, các quyết sách được thông qua tại Đại hội sẽ giúp các lĩnh vực khoa học Trái đất phát huy đầy đủ vai trò kép: vừa là “lá chắn” giảm thiểu rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu, vừa trở thành “đòn bẩy” cho phát triển bền vững và dài hạn.

PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Trung Nguyên.

Từ góc độ lãnh đạo đơn vị nghiên cứu khoa học đầu ngành trong các lĩnh vực khoa học Trái đất như khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, môi trường, biển…, bà kỳ vọng Đại hội sẽ tạo ra sự chuyển biến ở những vấn đề gì?

Từ góc nhìn nghiên cứu khoa học, tôi cho rằng, môi trường chính là thước đo phản ánh mức độ phát triển bền vững của đất nước. Tôi kỳ vọng Đại hội XIV sẽ đặt ra những quyết sách coi môi trường song hành với tăng trưởng kinh tế, xem môi trường là nền tảng quan trọng của tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Như vậy, các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học Trái đất như khí tượng thủy văn, môi trường, đất, nước, biển… cần trở thành đầu vào quan trọng cho quá trình hoạch định chính sách phát triển, quy hoạch vùng kinh tế, vùng sản xuất, đầu tư, khai thác tài nguyên, cũng như quản lý và xử lý các rủi ro liên quan.

Từ đó, cần có sự đầu tư tương xứng cho các nghiên cứu nền tảng này, bao gồm: ưu tiên phát triển hạ tầng số, chuyển đổi số và dữ liệu lớn. Phát triển công nghệ hiện đại phục vụ quan trắc, thám sát, thăm dò kịp thời những biến đổi của môi trường để nắm bắt rủi ro hiện tại và tương lai. Đầu tư cho nguồn nhân lực nghiên cứu, quản lý lĩnh vực tỏng dài hạn, tránh sự ngắt quãng về nguồn nhân lực. Có như vậy mới có thể gắn kết kinh tế và môi trường.

Mặt khác, môi trường và biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, cần đặt các nghiên cứu của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu, bắt kịp xu hướng mới và tăng cường hợp tác quốc tế một cách sâu rộng để huy động tối đa nguồn lực giải quyết các thách thức đặt ra.

Dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng thể hiện bước chuyển mang tính nền tảng khi xác lập bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế và xã hội giữ vị trí nhiệm vụ trung tâm. Ảnh: Chinhphu.vn

Dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng thể hiện bước chuyển mang tính nền tảng khi xác lập bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế và xã hội giữ vị trí nhiệm vụ trung tâm. Ảnh: Chinhphu.vn

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khắc nghiệt, thách thức môi trường gia tăng cùng với đà tăng trưởng kinh tế, việc phát triển khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực trên đóng vai trò như thế nào để vừa giảm thiểu rủi ro, vừa tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong dài hạn?

Như đã đề cập, trước những thách thức môi trường ngày càng gia tăng trong quá trình tăng trưởng kinh tế, khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, môi trường và biển cần đóng vai trò là nền tảng cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Vai trò này thể hiện ở hai khía cạnh: vừa là “lá chắn” giảm thiểu rủi ro, vừa là “đòn bẩy” cho phát triển dài hạn.

Về giảm thiểu rủi ro, khoa học và công nghệ cung cấp thông tin, bằng chứng khoa học, công cụ và các mô hình để nhận diện, giám sát, phân tích và dự báo quy luật, những diễn biến bất thường và rủi ro liên quan đến thiên tai, biến đổi khí hậu và môi trường. Các thông tin này cần ngày càng kịp thời, liên tục, chi tiết và chính xác, nhằm hỗ trợ hiệu quả cho công tác ra quyết định trong phòng ngừa, ứng phó, giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ cộng đồng.

Khía cạnh tạo nền tảng phát triển bền vững dài hạn thể hiện ở việc phát triển các công nghệ thúc đẩy chuyển đổi xanh, như sử dụng năng lượng tái tạo; khai thác, sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn tài nguyên, bao gồm tài nguyên nước, tài nguyên biển và tài nguyên khí hậu; xây dựng các mô hình kinh tế tuần hoàn; các mô hình thích ứng dựa vào tự nhiên; đồng thời bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái.

Thực tế cho thấy, các thành phần của môi trường luôn tương tác chặt chẽ với nhau và với con người, đồng thời, chính môi trường cũng là kết quả của những quá trình tương tác đó. Vì vậy, việc tiếp cận và giải quyết các bài toán phát triển theo hướng tổng hợp, liên ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Vậy Viện sẽ giải bài toán gắn nghiên cứu với thực tiễn sử dụng như thế nào, song song với việc đào tạo, thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao, thưa bà?

Thực tiễn hiện nay đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, cả về tính ứng dụng và chiều sâu chuyên môn. Điều này thể hiện ở việc các kết quả nghiên cứu phải phục vụ đa dạng đối tượng, từ quản lý nhà nước, cộng đồng đến doanh nghiệp. Đồng thời phải giải quyết những thách thức ngày càng phức tạp liên quan đến biến động khí hậu, rủi ro thiên tai, môi trường và biến đổi khí hậu. Các sản phẩm nghiên cứu cần có khả năng ứng dụng thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và quản lý rủi ro.

Đây là thách thức rất lớn. Môi trường và biến đổi khí hậu trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động, rủi ro và bất thường nên nghiên cứu của chúng ta phải xuất phát từ đó để có định hướng.

Với cách tiếp cận như vậy, Viện định hướng sẽ có các nghiên cứu trên cơ sở mô hình phối hợp “ba nhà”: Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp. Cụ thể, các bài toán nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công tác quản lý nhà nước, từ trung ương đến địa phương, cũng như nhu cầu của người dân và doanh nghiệp; tổ chức nghiên cứu gắn với quá trình phối hợp triển khai và đưa kết quả vào sử dụng.

Chẳng hạn, Viện đã triển khai nhiều đề tài, dự án khoa học bằng nguồn lực của các địa phương như Phú Thọ, Ninh Bình. Trong quá trình triển khai, Viện phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để xây dựng và vận hành các hệ thống cảnh báo sớm, phục vụ trực tiếp công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro tại địa phương. Bên cạnh đó, một số sản phẩm nghiên cứu của Viện đã được các doanh nghiệp và tổ chức lớn đưa vào sử dụng trong thực tiễn, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí và các đơn vị trong ngành hàng không, góp phần hỗ trợ hoạt động sản xuất, vận hành an toàn và hiệu quả.

Một định hướng quan trọng nữa là khai thác tối đa các nguồn lực từ đầu tư ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, đầu tư nước ngoài, hợp tác quốc tế. Các nguồn lực này sẽ dùng để vừa đầu tư hạ tầng, vừa triển khai nghiên cứu trên nền tảng công nghệ tiên tiến, kết hợp đào tạo nhân lực. Việc tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp giải quyết các bài toán môi trường và biến đổi khí hậu ở quy mô lớn hơn, trong bối cảnh mang tính toàn cầu. Đây cũng là dịp để đội ngũ cán bộ khoa học trong nước được cọ xát, nâng cao năng lực.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu và thực tiễn triển khai cũng góp phần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, đồng bộ. Các sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng thực tế sẽ trở thành nguồn thu hợp pháp, góp phần tạo điều kiện thu hút và giữ chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Link nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/de-khoa-hoc-trai-dat-tro-thanh-la-chan-rui-ro-cho-tang-truong-dai-han-d794732.html