a. Khoa học công nghệ:
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Viện KTTVMTB) được thành lập trên cơ sở hợp nhất Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu với Viện Khoa học Môi trường, Biển và Hải đảo là viện nghiên cứu cơ bản trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, có chức năng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, môi trường, biển và hải đảo; đào tạo trình độ tiến sĩ về khí tượng, thủy văn, môi trường và biến đổi khí hậu.
Từ khi thành lập đến nay, Viện KTTVMTB đã thực hiện nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng quy trình, quy phạm, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa v.v. Các hoạt động khoa học công nghệ của Viện KTTVMTB được triển khai thực hiện ở cả các cấp: сấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Cơ sở và cấp tỉnh. Viện KTTVMTB cũng đã chủ trì nhiều đề tài thuộc các chương trình khoa học trọng điểm quốc gia, nhiều đề tài độc lập cấp nhà nước và hàng trăm đề tài cấp Bộ và cấp Cơ sở có ý nghĩa quan trọng phục vụ phát triển bền vững KT-XH đất nước.
Viện KTTVMTB đã đạt được một số kết quả nổi bật, góp phần phục vụ đắc lực cho các công trình trọng điểm, phục vụ phát triển KT-XH và phát triển ngành. Việc triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu đã góp phần quan trọng vào việc đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, chỉ đạo và quản lý nghiên cứu khoa học của các cán bộ khoa học, các cấp quản lý của Viện. Các thành tựu của Viện KTTVMTB qua các thời kỳ như sau:
1) Giai đoạn 1991-2005:
Viện KTTVMTB đã thực hiện 28 đề tài NCKH cấp nhà nước, trong đó có 6 đề tài độc lập và 6 đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên và phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường giai đoạn 1991-1995, 1996-2000, 2001-2005. Các đề tài đã được thực hiện với kết quả tốt và xuất sắc, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển KT-XH bền vững, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường, quy hoạch vùng và phòng chống thiên tai. Các đề tài tiêu biểu như:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên nước trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền (KT-02-10);
- Nghiên cứu cân bằng nước phục vụ phát triển KT-XH khu vực miền Trung, vùng Khu 4 cũ (KC-12-02);
- Nghiên cứu, kiến nghị mạng lưới trạm monitoring Quốc gia, xây dựng quy trình hoạt động và trang thiết bị hoạt động cho trạm monitoring môi trường mẫu và các thiết bị MT (KT-02-12);
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ô nhiễm dầu khí trên vùng biển Việt Nam và xây dựng các giải pháp kỹ thuật phòng chống ô nhiễm do dầu và các sản phẩm dầu gây ra (KT-03-21);
- Nghiên cứu nguyên nhân hình thành các biện pháp phòng chống lũ quét;
- Nguyên nhân, giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn hoang mạc hoá vùng Trung Trung Bộ (KC 07);
- Tác động của ENSO đến thời tiết-khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội ở Việt Nam (Đề tài dộc lập cấp Nhà nước).
- Điều tra, nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt, phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung (Đề tài dộc lập cấp Nhà nước);
- Đánh giá khả năng phân lũ sông Đáy và sử dụng lại các khu chậm lũ và đề xuất các phương án khi gặp lũ lớn khẩn cấp (thuộc Chương trình: “Phòng chống lũ đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình);
- Nghiên cứu áp dụng mô hình NWSRFS của Mỹ để dự báo, cảnh báo thử nghiệm áp dụng dự báo lũ sông Hồng- Thái Bình.
Trong giai đoạn này, Viện KTTVMTB cũng đã thực hiện 175 đề tài cấp Bộ, 32 đề tài cấp Cơ sở, tập trung vào nghiên cứu khí tượng, khí hậu, thủy văn, hải văn, tài nguyên nước, môi trường và khí tượng nông nghiệp. Các đề tài làm rõ quy luật khí hậu – thủy văn Việt Nam, nghiên cứu hiện tượng cực đoan, thiên tai, ENSO, gió mùa, bão, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn; đồng thời phát triển các mô hình dự báo, công nghệ tính toán, bản đồ, cơ sở dữ liệu và công cụ hỗ trợ ra quyết định. Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng phục vụ dự báo, cảnh báo thiên tai, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, nông nghiệp, tài nguyên nước và bảo vệ môi trường, khẳng định vai trò nòng cốt của Viện trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong giai đoạn này.
2) Giai đoạn từ 2006 – 2010:
Trong giai đoạn này, Viện KTTVMTB đã chủ trì và tham gia thực hiện 4 đề tài cấp Nhà nước và 27 đề tài cấp Bộ. Các đề tài NCKH của Viện KTTVMTB có tính ứng dụng cao và tập trung chủ yếu vào vấn đề phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu như xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng; xây dựng các bản đồ hạn hán; bản đồ nguy cơ sóng thần, phân vùng lũ quét v.v…. Các đề tài này đều đạt kết quả xuất sắc, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Một số chương trình và đề tài nổi bật là:
- Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam;
- Đề xuất quy định lại cấp báo động lũ trên các sông chính của Việt Nam (2006-2009);
- Xây dựng bản đồ hạn hán, thiếu nước sinh hoạt ở Nam Trung Bộ và Tây nguyên (2006-2009);
- Xây dựng bản đồ nguy cơ sóng thần cho các vùng bờ biển Việt Nam (2006-2009);
- Điều tra, khảo sát, phân vùng và cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt Nam (2007-2010);
- Nghiên cứu xây dựng, đề xuất quy trình vận hành điều tiết nước hệ thống hồ chứa trên sông Hương (2008-2009);
- Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm hệ thống trạm khí tượng tự động (2008-2009).
Bên cạnh đó Viện KTTVMTB cũng tham gia thực hiện các nhiệm vụ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể:
– Xây dựng Thông tư số 23/2010/TT-BTNMT ngày 26/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo;
– Xây dựng Thông tư số 36/2010/TT-BTNMT ngày 14/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về định mức kinh tế kỹ thuật điều tra khảo sát, đánh giá hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển và đất ngập nước ven biển, hải đảo.
3) Giai đoạn 2011 – 2015:
Viện KTTVMTB tiếp tục chủ trì thực hiện thành công nhiều đề tài, nhiệm vụ thuộc các chương trình trọng điểm Nhà nước các cấp; 7 đề tài cấp Nhà nước, 24 đề tài cấp Bộ; 27 đề tài cấp cơ sở và 07 đề tài cấp tỉnh, thành phố, và các công tác nghiệp vụ,… Kết quả nghiên cứu của các đề tài và dự án đã và đang góp phần quan trọng trong việc quản lý, giám sát, đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước, cảnh báo lũ, ứng phó với BĐKH, môi trường biển và hải đảo v.v… Một số chương trình và đề tài tiêu biểu trong giai đoạn này:
Trong khuôn khổ Chương trình Khoa học Công nghệ (KHCN) quốc gia phục vụ Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) giai đoạn 2011 – 2015, năm 2015 Viện đã hoàn thành các đề tài bao gồm:
(1) Đề tài “Nghiên cứu phát triển bộ chỉ số thích ứng với BĐKH phục vụ công tác quản lý nhà nước về BĐKH” (mã số BĐKH.16) đã xây dựng được cơ sở khoa học, phương pháp luận và áp dụng tính toán thử nghiệm thành công bộ chỉ số thích ứng với BĐKH để đánh giá hiệu quả của các hoạt động thích ứng tại tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Cần Thơ. Bộ chỉ số giúp các nhà quản lý và các nhà hoạch định chiến lược có 1 công cụ xác định được hiệu quả của các hành động thích ứng đang và đã đưa ra để từ đó có thể đưa ra các quyết sách, định hướng và chiến lược xây dựng và thực hiện hiệu quả hoạt động thích ứng. Bộ chỉ số cũng có tính khả thi cao do hầu hết các số liệu đầu vào đều được thống kê, báo cáo hàng năm trong niên giám thống kê của địa phương và vì vậy có thể thực hiện đánh giá hiệu quả thích ứng định kỳ để đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực phù hợp nhất cho thích ứng. Ngoài ra, bảng tính có thể tự động cập nhật khi thay đổi các số liệu đầu vào, dễ dàng chuyển giao cho các tỉnh, thành phố.
(2) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng Atlat khí hậu và Việt Nam” (mã số BĐKH.17) đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về khí hậu, BĐKH (bao gồm các bản đồ) với các thời kỳ chuẩn khác nhau phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, phòng tránh thiên tai, ứng phó với BĐKH và có tính so sánh với các sản phẩm tương tự ở ngoài nước về thời kỳ chuẩn, yếu tố thể hiện, phương pháp tính toán, xây dựng bản đồ. Tập “Atlas khí hậu và BĐKH Việt Nam” được xuất bản dưới dạng bản cứng ở tỷ lệ 1:3.000.000 và bản điện tử được xây dựng bằng phần mềm Arc GIS ở tỷ lệ 1:1.000.000 dễ dàng trong công tác khai thác, sử dụng.
(3) Đề tài “Nghiên đề luận cứ khoa học cập nhật kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam” (mã số BĐKH.43) đã đưa ra được luận cứ khoa học và thực tiễn của việc cập nhật kịch bản cho Việt Nam và đề xuất phương án cập nhật kịch bản cho Việt Nam bằng phương pháp chi tiết hóa động lực mô phỏng. Áp dụng phương pháp tổ hợp trung bình của 4 mô hình (10 phương án) bao gồm 6 phương án của CCAM, 1 phương án clWRF, 1 phương án của PRECIS và 2 phương án của mô hình REGCM, đề tài đã dự tính được mức độ thay đổi nhiệt độ, lượng mưa cho Việt Nam trong thế kỷ 21. Kịch bản NBD cho Việt Nam được dự tính cho các kịch bản KNK RCP 4.5 và RCP 8.5 theo phương pháp của IPCC, 2013 trên cơ sở các mô hình khí quyển đại dương toàn cầu và tỉ lệ phân bố không gian của các thành phần đóng góp vào mực NBD do băng tan và lưu trữ nước trên lục địa theo nghiên cứu mới nhất trên thế giới.
Viện có 02 đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”, Mã số KC.08/11-15, gồm:
(1) Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển mô hình công nghệ tích hợp tiên tiến có tận thu và sử dụng năng lượng tái tạo để xử lý hiệu quả, bền vững nguồn thải hỗn hợp rắn lỏng từ các lò giết mổ tập trung” – KC.08.31 đã nghiên cứu, áp dụng thực tế thành công hệ thống xử lý chất thải cho lò giết mổ bò với công suất 20m3/ngày. Đây là hệ thống dễ vận hành, tiết kiệm năng lượng, chi phí đầu tư và duy trì hợp lý giúp các cơ sở giết mổ có khả năng vận hành và sử dụng kết quả của đề tài ngay cả khi không có dự án, ngân sách từ nhà nước. Kết quả nghiên cứu của đề tài tương đối mới không chỉ trong nước mà cả trên thế giới nên có tiềm năng liên kết, hợp tác quốc tế để tiếp tục nghiên cứu nâng cấp và triển khai áp dụng rộng rãi.
(2) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng” – KC.08.17 đã xây dựng và vận hành thử nghiệm thành công hệ thống giám sát hạn hán thời gian thực bằng công nghệ viễn thám cho Việt Nam. Hệ thống giám sát này đang được vận hành tự động, các bản tin liên tiếp được cập nhật sau 2 ngày. Người dùng có thể dễ dàng khai thác thông tin giám sát hạn hán (ngày, tuần, tháng, mùa, năm) và tải dữ liệu tại một điểm bất kỳ thông qua khai báo kinh độ và vĩ độ của điểm quan tâm từ trang web http://dubaokhihau.vn. Hệ thống giám sát hạn hán đã được chuyển giao cho Viện KTTVBĐKH, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, 9 Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực nhằm phục vụ công tác nghiệp vụ giám sát và cảnh báo hạn hán. Qua kết quả thử nghiệm cho thấy, hệ thống phản ánh khách quan điều kiện hạn hán ở các địa phương, đưa ra các cảnh báo kịp thời và chính xác. Ngoài ra Đề tài đã xây dựng thành công hệ thống mô hình thống kê và động lực dự báo hạn hán, kết quả thử nghiệm bước đầu cho thấy hệ thống mô hình có thể đưa ra các cảnh báo và dự báo với thời hạn trước từ 1 đến 3 tháng khá chính xác. Các tháng chuyển mùa, hệ thống mô hình cũng đưa ra được các kết quả dự báo khá phù hợp. Mặc dù còn một số hạn chế, tuy nhiên, đây là hệ thống mô hình động lực đầu tiên ở Việt Nam được đưa vào thử nghiệm.
Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu khí hậu nông nghiệp phục vụ phát triển cà phê chè ở Tây Nguyên” thuộc chương trình trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ sản xuất các sản phẩm chủ lực”, mã số KC.06/11-15. Đề tài đã đánh giá chi tiết các đặc điểm khí hậu ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây cà phê chè (Arabica). Đề tài xây dựng bản đồ phân vùng khí hậu nông nghiệp, xác định các vùng thích hợp, thích hợp hạn chế và không thích hợp cho phát triển cà phê chè. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các vùng trồng hiện tại và tương lai, đề xuất các giải pháp kỹ thuật và canh tác thích ứng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng phục vụ quy hoạch và phát triển bền vững cà phê chè tại khu vực Tây Nguyên.
Đề tài nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo nghị định thư “Những biến đổi quy mô khí hậu trong hệ thống gió mùa và tác động của nó với Biển Đông Việt Nam”;
Viện KTTVMTB cũng đã tham gia Tham gia nhóm xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.

4) Giai đoạn 2016 – 2020:
Trong giai đoạn 2016–2020, Viện Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã chủ trì thực hiện 6 đề tài cấp quốc gia, 20 đề tài cấp Bộ và 14 đề tài cấp cơ sở. Các đề tài cấp Nhà nước chủ yếu thuộc hai Chương trình: “Khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016–2020” (BĐKH/16–20) và “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai” (KC.08/16–20).
Tiêu biểu trong Chương trình BĐKH là đề tài “Nghiên cứu đề xuất hệ thống giám sát – báo cáo – thẩm định (MRV) các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam” (BĐKH.32/16–20), đã xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hình thành hệ thống MRV quốc gia, đề xuất cấu trúc hệ thống, bộ chỉ tiêu và quy trình MRV, góp phần nâng cao tính minh bạch và hỗ trợ thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là NDC.
Đối với Chương trình KC.08, Viện đã chủ trì và tham gia thực hiện 5 đề tài tập trung vào dự báo, cảnh báo thiên tai, quản lý rủi ro và bảo vệ môi trường. Các đề tài có tính ứng dụng cao, gắn trực tiếp với yêu cầu thực tiễn trong công tác phòng chống thiên tai và quản lý tài nguyên, môi trường. Nổi bật là đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai bão và áp thấp nhiệt đới theo các bản tin dự báo khí tượng thủy văn” (KC.08.36/16–20), được áp dụng thử nghiệm cho khu vực Bắc Trung Bộ. Trong lĩnh vực dự báo mưa và khí hậu, các đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống nghiệp vụ dự báo định lượng mưa khu vực Nam Bộ và cảnh báo mưa lớn hạn cực ngắn cho Thành phố Hồ Chí Minh” (KC.08.14/16–20) và “Nghiên cứu xây dựng hệ thống nghiệp vụ dự báo khí hậu hạn mùa cho Việt Nam bằng các mô hình động lực” (KC.08.01/16–20) đã góp phần nâng cao năng lực dự báo nghiệp vụ. Bên cạnh đó, đề tài “Nghiên cứu các giải pháp khoa học và công nghệ quản lý đa thiên tai, xây dựng công cụ hỗ trợ ra quyết định ứng phó với đa thiên tai” (KC.08.24/16–20) và đề tài “Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp, tuần hoàn và tái sử dụng chất thải của một số làng nghề tái chế lưu vực sông Nhuệ – Đáy” (KC.08.20/16–20) đã cung cấp các giải pháp tích hợp phục vụ quản lý thiên tai và bảo vệ môi trường. Các kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đang được ứng dụng hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, phòng chống thiên tai và phát triển bền vững.
Viện KTTVMTB đã tham gia thực hiện các nhiệm vụ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể:
+ Tham gia nhóm xây dựng Luật bảo vệ môi trường;
+ Tham gia tổ soạn thảo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
+ Xây dựng Thông tư số 26/2016/TT-BTNMT ngày 29/9/2016 quy định chi tiết tiêu chí phân cấp vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo;
+ Xây dựng Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT ngày 12/10/2016 quy định việc thiết lập và bảo vệ hành lang bảo vệ bờ biển;
+ Xây dựng Thông tư số 33/2018/TT-BTNMT ngày 26/12/2018 quy định quy trình khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên biển;
+ Xây dựng Thông tư số 28/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 quy định kỹ thuật đánh giá vật chất nhận chìm ở biển và lựa chọn khu vực biển để nhận chìm;
Năm 2020, Bộ NNMT đã giao cho Viện KTTVMTB xây dựng kế hoạch, triển khai các nghiên cứu về phương pháp luận để tiếp tục cập nhật, hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng chi tiết cho các giai đoạn đến năm 2100, trong đó xây dựng tập bản đồ nguy cơ ngập chi tiết theo các kịch bản nước biển dâng; tích hợp thông tin và dữ liệu kịch bản phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương…Bên cạnh đó, Viện KTTVMTB cũng Xây dựng và hoàn thành “Đánh giá khí hậu quốc gia năm 2020”.
Ngoài ra, Viện KTTVMTB đã thực hiện tốt công tác cung cấp các bản tin dự báo, cảnh báo, thông báo về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu cụ thể: các bản tin dự báo bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn và thông tin thời tiết hàng ngày; các bản tin dự báo lũ và mực nước trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình; các bản tin Thông báo và Dự báo khí hậu hàng tháng; các bản tin Thông báo Khí tượng nông nghiệp. Viện KTTVMTB cũng đã duy trì tốt hoạt động của các trạm thực nghiệm và giám sát mạng lưới lắng đọng axit.
5) Giai đoạn 2021 – nay:
Trong giai đoạn gần đây, Viện KTTVMTB đã chủ trì và tham gia thực hiện nhiều đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia, tập trung vào đánh giá rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu và bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Các nghiên cứu hướng tới hoàn thiện cơ sở khoa học, phương pháp luận và công cụ hỗ trợ ra quyết định phục vụ quản lý nhà nước và phát triển bền vững.
Trong lĩnh vực môi trường, đề tài “Nghiên cứu, đánh giá sự tích tụ và tác động của vi nhựa (microplastic) đến hệ sinh thái cửa sông ven biển Nam Trung Bộ” (ĐTĐL.CN-53/22) đã cung cấp các kết quả quan trọng phục vụ bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Đối với lĩnh vực thủy văn và phòng chống lũ, các đề tài “Nghiên cứu khả năng chống chịu của hệ thống công trình phòng chống lũ, xây dựng công nghệ nhận dạng lũ lớn, tổ hợp lũ bất lợi trên lưu vực sông Hồng” (ĐTĐL.CN-47/22) và “Nghiên cứu xây dựng phương pháp luận theo tiếp cận kết hợp ‘từ trên xuống’ và ‘từ dưới lên’ đánh giá rủi ro nguồn nước do thay đổi chế độ thủy văn” (ĐTĐL.CN-60/21) đã đề xuất các phương pháp và giải pháp ứng phó hiệu quả. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về khí tượng biển như “Nghiên cứu các yếu tố và cơ chế ảnh hưởng đến sự thay đổi cường độ, hướng di chuyển của xoáy thuận nhiệt đới trên Biển Đông và xây dựng phương pháp dự báo sớm” (ĐTĐL.CN-119/21) và “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc trường mưa trong bão và thử nghiệm xây dựng mô hình dự báo phân bố mưa trong bão cho Việt Nam bằng số liệu vệ tinh” (ĐTĐL.CN-59/21) đã góp phần nâng cao năng lực dự báo bão và mưa lớn. Các kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, phục vụ hiệu quả công tác phòng chống thiên tai và quản lý tài nguyên, môi trường ở Việt Nam.
Viện có 3 đề tài cấp nhà nước đang triển khai năm 2026 gồm:
(1) Đề tài “Nghiên cứu xác định các mức cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai do nước biển dâng chi tiết một số khu vực trọng điểm ven biển Việt Nam” (KC.09.12/21–30) nhằm xây dựng cơ sở khoa học, phương pháp và công nghệ phục vụ công tác cảnh báo và ứng phó với rủi ro thiên tai do nước biển dâng. Đề tài tập trung nghiên cứu xác định các mức rủi ro ngập lụt ven biển do nước biển dâng gây ra, trên cơ sở phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội và mức độ dễ bị tổn thương tại các khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xác định các cấp độ rủi ro thiên tai do nước biển dâng và đề xuất hệ thống mức cảnh báo chi tiết cho một số khu vực trọng điểm ven biển của Việt Nam, góp phần hỗ trợ công tác chỉ đạo phòng chống thiên tai, quy hoạch không gian ven biển và thích ứng với biến đổi khí hậu.
(2) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo xâm nhập mặn dựa trên cơ sở tích hợp công nghệ viễn thám, thông lượng neutron vũ trụ và tia gamma cho khu vực ven biển Việt Nam” (KC.13.12/21–30) nhằm xây dựng cơ sở khoa học và giải pháp công nghệ phục vụ giám sát, dự báo và cảnh báo xâm nhập mặn. Đề tài tập trung tích hợp dữ liệu viễn thám với số liệu đo đạc neutron vũ trụ, tia gamma tại các trạm quan trắc ứng dụng công nghệ IoT. Trên cơ sở đó, xây dựng mô hình dự báo xâm nhập mặn với thời hạn dự báo từ 03 tháng đến 01 năm. Hệ thống và mô hình dự báo được triển khai thí điểm tại một vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm ven biển Việt Nam. Kết quả nghiên cứu phục vụ quản lý tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.
(3) Đề tài “Nghiên cứu tích hợp dữ liệu đa nguồn từ vệ tinh, bóng thám không tầm thấp, UAV, LiDAR, radar khí tượng và mô hình số khí tượng để tăng độ chi tiết trong xác định đặc điểm, cấu trúc lớp biên khí quyển khu vực duyên hải Bắc Trung Bộ” (KC.13.11/21–30) hướng tới nâng cao độ phân giải và độ tin cậy của thông tin khí tượng, góp phần cải thiện năng lực dự báo, cảnh báo thời tiết và thiên tai khu vực ven biển.
Đối với đề tài cấp Bộ, trong giai đoạn này, các nghiên cứu của Viện tiếp tục góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực khoa học – công nghệ trong quản lý tài nguyên và môi trường, phát triển các mô hình dự báo hiện đại, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ hoạch định chính sách, quản lý môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại Việt Nam.
Lĩnh vực môi trường tập trung nghiên cứu các vấn đề ô nhiễm, quản lý chất thải và thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn. Nhiều nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá và kiểm soát ô nhiễm môi trường, tiêu biểu như nghiên cứu ô nhiễm không khí thời gian thực và xây dựng công cụ dự báo phục vụ kiểm soát ô nhiễm và quản lý phát thải tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về ô nhiễm nhựa và vi nhựa cũng được chú trọng, bao gồm xây dựng mô hình phát tán và tích tụ rác thải nhựa tại các đảo du lịch như Cô Tô, Lý Sơn và Phú Quốc; xây dựng bộ chỉ số nguy cơ ô nhiễm vi nhựa và đánh giá tích tụ vi nhựa trong một số loài động vật đáy thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng cửa sông ven biển. Song song với đó, các nghiên cứu về quản lý và tái sử dụng chất thải cũng được thực hiện như xây dựng bộ tiêu chí và quy trình kỹ thuật đánh giá tái sử dụng chất nạo vét vùng cửa sông ven biển theo hướng kinh tế tuần hoàn; nghiên cứu áp dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý chất thải phát sinh từ các cơ sở chăn nuôi và giết mổ tập trung; nghiên cứu cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển các dự án phát điện từ chất thải rắn. Ngoài ra, một số nghiên cứu tập trung hoàn thiện công cụ quản lý môi trường và kinh tế môi trường như nghiên cứu mô hình hợp tác công tư trong phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm.
Lĩnh vực biến đổi khí hậu tập trung vào các nghiên cứu nhằm giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển các mô hình sản xuất bền vững. Các đề tài đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn nhằm giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam. Nhiều nghiên cứu hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu như đánh giá nhận thức và nhu cầu hỗ trợ để phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý và hỗ trợ ra quyết định sản xuất nông nghiệp hữu cơ thích ứng biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ; nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ khoanh vùng khu vực trồng trọt hữu cơ theo đặc trưng tài nguyên và môi trường. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng tập trung xây dựng các công cụ kinh tế và chính sách phục vụ quản lý phát thải và thúc đẩy tăng trưởng xanh. Tiêu biểu là nghiên cứu đề xuất phương pháp tính GDP xanh loại II phù hợp với điều kiện Việt Nam và nghiên cứu xây dựng hướng dẫn phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, áp dụng thí điểm cho lĩnh vực quản lý chất thải. Các nghiên cứu này góp phần hỗ trợ triển khai thị trường carbon, thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng phát thải thấp.
Lĩnh vực khí tượng thủy văn tập trung phát triển và ứng dụng các mô hình dự báo hiện đại nhằm nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm thiên tai. Nhiều nghiên cứu đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy và các mô hình thủy văn tiên tiến nhằm nâng cao độ chính xác dự báo lũ đến các hồ chứa lớn trên lưu vực sông Đà, sông Chảy và sông Gâm. Đồng thời, các nghiên cứu phát triển mô hình thủy văn mã nguồn mở SAC-SMA kết hợp trí tuệ nhân tạo trong dự báo lũ thời gian thực, áp dụng thí điểm cho lưu vực sông Nậm Mu, cũng như ứng dụng hệ thống mô hình tích hợp khí tượng – thủy văn WRF-Hydro trong cảnh báo sớm lũ cho các lưu vực sông Vệ và Trà Khúc. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu tập trung cải tiến công nghệ dự báo thời tiết cực đoan như thử nghiệm mô hình phân giải mây tích hợp với mô hình khu vực để dự báo định lượng mưa lớn thời đoạn 6 giờ với hạn dự báo 24–48 giờ cho khu vực Trung Trung Bộ; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hòa hợp kết hợp đồng hóa dữ liệu độ phân giải cao nhằm dự báo cường độ, quỹ đạo bão, gió mạnh và mưa lớn trong bão trên khu vực Biển Đông và Việt Nam; nghiên cứu đổi mới công nghệ dự báo các đợt rét đậm, rét hại và mưa lớn mùa đông ở khu vực phía Bắc Việt Nam; cũng như ứng dụng trí tuệ nhân tạo kết hợp viễn thám trong cảnh báo nguy cơ ngập lụt do mưa lớn và triều cường cho các đô thị ven biển. Ngoài ra, các nghiên cứu đổi mới công nghệ dự báo khí hậu nông nghiệp cũng được triển khai nhằm dự báo điều kiện khí hậu và đánh giá tác động của khí hậu đến sản xuất lúa tại khu vực đồng bằng sông Hồng.
Lĩnh vực tài nguyên và môi trường biển tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý, bảo vệ hệ sinh thái biển và phát triển kinh tế biển bền vững. Các nghiên cứu đã xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phân loại hệ sinh thái biển Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên biển. Đồng thời, nhiều nghiên cứu cũng tập trung phát triển các công cụ và mô hình phục vụ quản lý vùng ven biển như phát triển bể thí nghiệm số mô phỏng sóng, dòng chảy và vận chuyển bùn cát phục vụ bố trí không gian các công trình bảo vệ bờ biển, bãi biển và tạo bãi; nghiên cứu ứng dụng mô hình mã nguồn mở SCHISM trong dự báo mực nước tổng cộng (bao gồm thủy triều, nước dâng do bão, gió mùa và sóng) tại các vùng cửa sông ven biển. Ngoài ra, các nghiên cứu về hoàn thiện thể chế cũng được triển khai như nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nội luật hóa một số quy định của các điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường biển, cũng như đề xuất các giải pháp thực thi Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa.
Kết quả các đề tài tạo cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
b. Đào tạo Nghiên cứu sinh

Trong công tác đào tạo trình độ tiến sĩ, tính đến nay, Viện KTTVMTB đã đào tạo thành công 94 tiến sĩ. Hiện nay, Viện KTTVMTB đang tiếp tục đào tạo 22 nghiên cứu sinh về các ngành Khí tượng và khí hậu học, Thủy văn học, Hải dương học, Quản lý tài nguyên và môi trường và BĐKH, góp phần không nhỏ trong việc kiện toàn đội ngũ cán bộ chất lượng cao và phát triển, nâng cao chất lượng cán bộ nghiên cứu, quản lý và giảng dạy trong và ngoài Bộ TNMT.
c. Hợp tác quốc tế
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Viện KTTVMTB đã thiết lập được quan hệ hợp tác bền vững về khoa học, công nghệ và đào tạo với rất nhiều tổ chức quốc tế và các nước như: WMO, UNDP, GEF, UNEP, UNFCCC, WB, Ủy hội Mê Công quốc tế (MRC), Chương trình Thủy văn quốc tế, Mạng lưới giám sát lắng đọng axít vùng Đông Á (EANET); thực hiện hợp tác song phương với các nước: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Úc, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Hàn Quốc, Đan Mạch, CHLB Đức, Anh, các nước ASEAN; ký Biên bản ghi nhớ với Trung tâm Nghiên cứu ô nhiễm không khí châu Á (ACAP), Thỏa thuận hợp tác với tổ chức nghiên cứu, đào tạo của các nước như Hàn Quốc (về khí tượng, hải dương học, đào tạo nhân lực môi trường, nghiên cứu biển và tràn dầu), Phần Lan (Nghiên cứu thích ứng với biến đổi khí hậu), Trung tâm Phòng tránh thiên tai Châu Á (Nghiên cứu và triển khai hoạt động hỗ trợ kỹ thuật để cải tiến hệ thống dịch vụ thông tin khí hậu, hệ thống cảnh báo sớm khí hậu, quản lý thiên tai ở Việt Nam), OECC Nhật Bản, Trung tâm Nghiên cứu Hệ thống thông tin địa lý, Đại học Feng Chia, Đài Loan, … Qua đó, Viện KTTVMTB đã thu hút được nguồn lực đầu tư, kinh nghiệm và các thành tựu khoa học quốc tế về khí tượng thủy văn, môi trường, biển và hải đảo tập trung vào các vấn đề: (1) Các nghiên cứu cơ bản về khí tượng, khí hậu, thủy văn; (2) Tăng cường năng lực và công nghệ dự báo; (3) Tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH, đánh giá các tác động của BĐKH đến các lĩnh vực, ngành, địa phương tại Việt Nam; (4) Tăng cường năng lực quản lý tổng hợp vùng bờ; (5) Tăng cường năng lực nghiên cứu biển, phát triển các dự án chung với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và các khu vực có biển lớn khác.

Một số hoạt động quan hệ quốc tế tiêu biểu như: Thực hiện nhiệm vụ của Bộ giao làm đầu mối “Đồng chủ trì Nhóm công tác Việt Nam – Hoa Kỳ về Biến đổi khí hậu”, Viện đã phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và phía Hoa Kỳ để ký văn bản thỏa thuận về khuôn khổ hợp tác của Nhóm công tác và đã tổ chức thành công phiên họp lần thứ nhất Nhóm công tác Việt Nam – Hoa Kỳ về Biến đổi khí hậu tại Hà Nội. Viện cũng phối hợp trong xây dựng và ứng dụng các mô hình dự báo thời tiết, dự báo khí hậu, mô hình khí hậu khu vực, xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu với các tổ chức như Trung tâm Hadley (Cơ quan khí tượng Anh); Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển quốc gia (NCAR – Mỹ); Trung tâm Dự báo Môi trường quốc gia (NCEP – Mỹ); Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Khối thịnh vượng chung (CSIRO – Úc); Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng Bjneknes (BCCR – Na Uy); Phối hợp với UNEP trong các nghiên cứu về pháp luật liên quan đến thích ứng với BĐKH và chính sách nhằm giảm sự phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) và tăng cường việc sử dụng hệ sinh thái đa mục tiêu. Viện KTTVBĐKH đã hoàn thành quản lý và thực hiện dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ BĐKH phù hợp với điều kiện quốc gia tại Việt Nam – NAMA” (GIZ tài trợ), “Dự án tăng cường năng lực thực hiện chiến lược quốc gia về BĐKH” (UNDP tài trợ). Viện KTTVMTB chủ trì về kỹ thuật xây dựng “Báo cáo Dự kiến đóng góp quốc gia tự quyết định” (INDC) cho Việt Nam. Đặc biệt, cùng với gần 70 nhà khoa học có trình độ cao thực hiện trong hơn 2 năm, Viện KTTVMTB chủ trì và hoàn thành Báo cáo Đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với Biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam). Báo cáo SREX Việt Nam đã được đề cử trong 10 Sự kiện nổi bật năm 2015 của Bộ TNMT (nay là Bộ NNMT). Viện đã thực hiện Phi dự án “Hỗ trợ thiết bị điều tra, khảo sát và phân tích rác thải nhựa đại dương” tiếp nhận các thiết bị hiện đại, tiên tiến từ chính phủ Nhật Bản. Đồng thời Viện KTTVMTB đã phối hợp thực hiện Dự án khu vực “Giảm sử dụng và phát thải hóa chất, bao gồm các chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) trong lĩnh vực dệt may”, viện trợ không hoàn lại từ Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) thông qua Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP). Viện cũng cử cán bộ tham gia Đoàn đàm phán INC (Ủy ban Đàm phán Liên chính phủ) của Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp cùng các Bộ Công Thương, Ngoại giao, Tư pháp, tích cực tham gia xây dựng văn kiện pháp lý toàn cầu về ô nhiễm nhựa. Viện KTTVMTB luôn tích cực tham gia các hoạt động hỗ trợ Đoàn đàm phán về biến đổi khí hậu của Việt Nam tại hội nghị các bên về biến đổi khí hậu (COP) hằng năm của Bộ và phối hợp tổ chức các Hội thảo bên lề cho Đoàn đàm phán. Hiện nay, Viện KTTVMTB đang làm đầu mối quốc gia của Chương trình Thủy văn Quốc tế (IHP) tại Việt Nam, Mạng lưới Lắng đọng Axit vùng Đông Á (EANET).
Các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ đã đem lại hiệu quả thiết thực trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, thiết bị mới, đào tạo đội ngũ cán bộ và giải quyết một số vấn đề khoa học và công nghệ mới mà Việt Nam chưa có hoặc còn hạn chế như dự báo bằng các mô hình số trị, biến đổi khí hậu, công nghệ mới. Trong những năm gần đây, Viện đã hoàn thành nhiều dự án hợp tác quốc tế và được đánh giá cao về kết quả đạt được.

d. Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu

Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển. Tạp chí đăng tải các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ về khí tượng thủy văn, môi trường và biến đổi khí hậu; thông tin các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của Viện và các đơn vị liên quan. Từ khi thành lập đến nay, Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những Tạp chí đầu ngành về khí tượng, thủy văn, môi trường và biến đổi khí hâu, Tạp chí đang ngày càng nâng cao chất lượng và được nằm trong danh mục các Tạp chí tính điểm của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước với 0-0,75 điểm của Hội đồng giáo sư ngành Thủy lợi và 0,25 điểm của Hội đồng giáo sư liên ngành Trái đất-Mỏ.
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của Viện KTTVMTB đã được đẩy mạnh nhằm cung cấp các cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, góp phần vào sự phát triển ngành nông nghiệp và môi trường nói riêng và phục vụ kinh tế – xã hội của đất nước nói chung. Song song với công tác nghiên cứu về BĐKH, các cán bộ, giảng viên của Viện KTTVMTB còn tích cực tham gia công tác xuất bản các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí uy tín trong nước và quốc tế. Tổ chức đào tạo trình độ Tiến sĩ về các lĩnh vực được giao và duy trì xuất bản Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu của Viện.

