Ngày 20/10/2026, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (KTTVMTB) tổ chức Hội thảo khoa học “Bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên”. Hội thảo nhằm trao đổi, chia sẻ kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn và các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên.
Hội thảo có sự tham gia của GS. TS. Lê Thị Hợp (Chủ tịch Hội Nữ Trí thức Việt Nam), Lãnh đạo Viện KTTVMTB, đại diện các đơn vị thuộc Viện, các nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, môi trường, biến đổi khí hậu và biển. Nội dung hội thảo tập trung vào các vấn đề về xử lý chất thải, tác động của biến đổi khí hậu, kiểm soát ô nhiễm nhựa, phục hồi nguồn nước và bảo tồn đa dạng sinh học biển.

Hội thảo nhận hoa chúc mừng của Hội Nữ Trí thức Việt Nam
Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.TS. Phạm Thị Thanh Ngà (Viện trưởng Viện KTTVMTB) cho rằng, bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên là những yêu cầu mang tính nền tảng, có mối quan hệ chặt chẽ với việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo đảm an ninh tài nguyên và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và sức ép từ các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên ngày càng gia tăng. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở việc nhận diện, đánh giá các vấn đề môi trường, mà cần hướng tới đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn và có khả năng ứng dụng trong công tác quản lý.

PGS.TS. Phạm Thị Thanh Ngà phát biểu khai mạc hội thảo
Theo PGS. Ngà, các báo cáo tại Hội thảo tập trung vào các nội dung có tính thời sự và thực tiễn, bao gồm kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt; đánh giá tác động của biến đổi khí hậu; các giải pháp ứng phó với ô nhiễm nhựa; mô hình hợp tác công tư trong phục hồi nguồn nước; quản lý tổng hợp vùng bờ và bảo tồn đa dạng sinh học biển. Chính vì vậy, người đứng đầu Viện KTTVMTB kỳ vọng, thông qua các báo cáo và phần thảo luận, các nhà khoa học, chuyên gia sẽ tập trung trao đổi, làm rõ những kết quả nghiên cứu, những vấn đề còn tồn tại và khả năng ứng dụng các giải pháp được đề xuất. Đồng thời, gợi mở những hướng nghiên cứu mới, tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị, các nhóm nghiên cứu trong thời gian tới.
TS. Lê Ngọc Cầu (Phó Viện trưởng Viện KTTVMTB) trong phát biểu của mình tại hội thảo đã đặc biệt đánh giá cao vai trò của các nhà khoa học nữ nói riêng và phụ nữ nói chung trong việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

TS. Lê Ngọc Cầu phát biểu tại hội thảo
Nghiên cứu phát triển hệ thống xử lý sử dụng năng lượng mặt trời nhằm tái sử dụng nước thải từ ngành công nghiệp bán dẫn và thu hồi các nguồn tài nguyên thiết yếu
Mở đầu hội thảo, PGS.TS. Hoàng Thị Thu Hương (Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội) đã giới thiệu về công nghệ xử lý nước thải ngành sản xuất bán dẫn – lĩnh vực dự báo đạt quy mô 31,39 tỷ USD vào năm 2029 tại Việt Nam.
Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả phát triển hệ thống lai thông minh SOLARWISE tích hợp vi tảo – màng quang xúc tác (MA/MBR), chưng cất màng (MD) vận hành bằng năng lượng mặt trời và tối ưu hóa bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Hệ thống xử lý triệt để các chất ô nhiễm khó phân hủy, thu hồi nước siêu tinh khiết (UPW), silica, các chất dinh dưỡng (N, P), đồng thời tái chế sinh khối vi tảo thành năng lượng sinh học, thiết lập mô hình kinh tế tuần hoàn khép kín cho nước thải bán dẫn.

PGS.TS. Hoàng Thị Thu Hương chia sẻ tại hội thảo
Theo PGS.TS. Hoàng Thị Thu Hương, nước thải cần được coi như một nguồn tài nguyên: chuyển đổi nước thải từ ngành sản xuất chất bán dẫn thành các dòng tài nguyên để thu hồi nước và vật liệu. Hệ thống lai MA/MBR–MD khắc phục những hạn chế của các quy trình đơn lẻ, giảm tiêu thụ năng lượng thông qua quang hợp, loại bỏ các chất gây ô nhiễm khó phân hủy bằng xúc tác quang, sản xuất nước đạt tiêu chuẩn tái sử dụng ở áp suất thấp bằng nhiệt mặt trời và cô đặc nước muối để thu hồi tài nguyên, đồng thời giảm thiểu việc bổ sung hóa chất, khối lượng bùn/nước muối và chi phí vận hành.
Kịch bản tuần hoàn và tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính từ xử lý sinh học chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Báo cáo do TS. Ngô Đăng Trí, Viện KTTVMTB trình bày tập trung xây dựng kịch bản phát triển xử lý sinh học chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) và ước tính tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính (KNK) tại Việt Nam đến năm 2050.
Nghiên cứu xây dựng hai kịch bản gồm kịch bản thông thường (BAU) và kịch bản định hướng tuần hoàn, sử dụng năm 2023 làm năm cơ sở, với các mốc đánh giá năm 2035 và 2050. Quy mô CTRSH thu gom được dự báo tăng từ 59.962 tấn/ngày năm 2023 lên 96.915 tấn/ngày năm 2035 và 151.679 tấn/ngày năm 2050 theo các giả định của mô hình.

TS. Ngô Đăng Trí trình bày tại hội thảo
Báo cáo đánh giá tiềm năng giảm phát thải ròng thông qua ba hợp phần: lượng phát thải mê-tan tránh được từ chôn lấp, phát thải trực tiếp trong quá trình xử lý sinh học và lợi ích giảm phát thải từ điện biogas thay thế điện lưới. Theo kết quả tính toán, tiềm năng giảm phát thải ròng ước tính đạt 1,60 triệu tCO₂e/năm vào năm 2035 và 6,09 triệu tCO₂e/năm vào năm 2050.
Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của phân loại rác tại nguồn, bảo đảm chất lượng nguyên liệu hữu cơ, kiểm soát rò rỉ mê-tan, nâng cao năng lực vận hành và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm compost để hiện thực hóa tiềm năng giảm phát thải.
Nội dung, giải pháp, lộ trình thực thi Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa
Trong bài trình bày của mình, TS. Phạm Văn Hiếu (Viện KTTVMTB) đã cập nhật tiến trình đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa (GPT) và chỉ ra các khoảng trống pháp lý, dữ liệu tại Việt Nam. Hiện nay, khung chính sách trong nước chủ yếu tập trung ở hạ nguồn (thu gom, tái chế), trong khi các công cụ thượng nguồn như trần sản xuất polyme nguyên sinh và tiêu chuẩn thiết kế sinh thái còn bỏ trống.

TS. Phạm Văn Hiếu trình bày tại hội thảo
Báo cáo đề xuất khung thực thi gồm 5 trụ cột (dữ liệu & MRV; đối tác đa bên quanh mạng lưới NPAP; ngoại giao & tài chính; sửa đổi pháp luật thượng nguồn; điều phối trung ương – địa phương) cùng các nhóm giải pháp về phí EPR điều chỉnh (eco-modulation), bộ máy nhân lực và 6 chỉ tiêu báo cáo quốc gia. Lộ trình thực thi gồm 3 giai đoạn từ nay đến sau năm 2030, hướng tới chuyển đổi từ quản lý chất thải nhựa sang quản trị toàn bộ vòng đời nhựa.
Nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác công tư trong phục hồi nguồn nước ở Việt Nam
Báo cáo của ThS. Phan Mai Linh và nhóm nghiên cứu thuộc Viện KTTVMTB tập trung nghiên cứu mô hình hợp tác công tư (PPP) trong phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ đề tài mã số TNMT.ĐL.02.08.2025.
Báo cáo phân tích khái niệm, đặc điểm của mô hình PPP; khung chính sách, pháp luật hiện hành; thực trạng và khả năng triển khai mô hình này trong lĩnh vực phục hồi nguồn nước. Theo nhóm nghiên cứu, các dự án phục hồi nguồn nước thường đòi hỏi nguồn lực lớn nhưng khó xác định lợi ích kinh tế trực tiếp đối với nhà đầu tư tư nhân. Đặc thù của các dự án này là tài sản công khó thu phí trực tiếp, trong khi hiệu quả vận hành và kết quả phục hồi nguồn nước có ý nghĩa quan trọng.

ThS. Phan Mai Linh chia sẻ về nghiên cứu tại hội thảo
Trên cơ sở phân tích thực trạng triển khai tại một số địa phương, báo cáo chỉ ra những khó khăn liên quan đến xác định sản phẩm đầu ra, nguồn thu, giải phóng mặt bằng, phân bổ rủi ro, quản lý vận hành và phối hợp liên ngành. Nhóm nghiên cứu đề xuất xem xét phạm vi, quy mô dự án ngay từ giai đoạn quy hoạch, kế hoạch; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan ký kết hợp đồng và cơ quan giám sát; đồng thời xây dựng cơ chế tài chính, phân bổ lợi ích, rủi ro và các chỉ số đánh giá hiệu quả phù hợp với từng nhóm dự án phục hồi nguồn nước.
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực trọng điểm trên lưu vực sông Đồng Nai
Báo cáo do TS. Ngô Thị Thủy, Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn, Viện KTTVMTB trình bày đã nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực trọng điểm trên lưu vực sông Đồng Nai. Phạm vi nghiên cứu bao gồm hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội; số liệu khí tượng thủy văn và kinh tế – xã hội được cập nhật đến năm 2023. Thời kỳ nền là giai đoạn 1995–2014, với các giai đoạn đánh giá tương lai 2046–2065 và 2080–2099 theo các kịch bản SSP1, SSP2 và SSP3.

TS. Ngô Thị Thủy trình bày tại hội thảo
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình toán và tiếp cận đánh giá rủi ro thiên tai theo công thức R = H × E × V, trong đó H là hiểm họa, E là mức độ phơi bày và V là tính dễ bị tổn thương. Các đối tượng đánh giá gồm dân cư, trồng trọt, thủy sản, hạ tầng giao thông, công trình thủy lợi lớn, thủy điện và công nghiệp. Các loại hình thiên tai được xem xét gồm lũ, xâm nhập mặn, nắng nóng và hạn hán, cùng các nội dung đánh giá hiểm họa liên quan.
Báo cáo trình bày kết quả xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, phân cấp hiểm họa và đánh giá rủi ro đối với các ngành, lĩnh vực trên lưu vực. Cách tiếp cận này cung cấp cơ sở đánh giá mức độ rủi ro theo từng đối tượng và từng loại hình thiên tai trong các kịch bản khí hậu, qua đó phục vụ nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu trên lưu vực sông Đồng Nai.

GS. TS. Lê Thị Hợp phát biểu tổng kết hội thảo
Phát biểu tổng kết tại hội thảo, GS. TS. Lê Thị Hợp (Chủ tịch Hội Nữ Trí thức Việt Nam) đánh giá cao các kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong hội thảo. Bà Hợp khẳng các nghiên cứu trên đều tập trung vào những vấn đề cấp thiết như biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Theo bà Hợp, đây đều là những thách thức lớn, cần có thời gian và sự phối hợp của nhiều bên để cùng giải quyết. Từ kinh nghiệm công tác của bản thân trong lĩnh vực dinh dưỡng, Bà Hợp khẳng định ô nhiễm nước, ô nhiễm đất và ô nhiễm môi trường đều ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, trực tiếp liên quan đến an toàn thực phẩm và an ninh dinh dưỡng. Chính vì vậy, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam kỳ vọng đội ngũ nữ trí thức sẽ tiếp tục dùng năng lực nghiên cứu của mình để góp phần cải thiện chất lượng môi trường.

