Công bố kết quả đánh giá khoa học về hệ thống cảnh báo sớm đối với lũ, lũ quét và sạt lở đất tại tỉnh Cao Bằng

Ngày 27/8/2026 tại Hà Nội, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (IMHEMS) phối hợp với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) tại Việt Nam tổ chức Hội thảo công bố kết quả và tham vấn nhiệm vụ “Đánh giá khoa học về hệ thống cảnh báo sớm đối với lũ, lũ quét và sạt lở đất tại tỉnh Cao Bằng”. Nhiệm vụ do IMHEMS chủ trì, với sự tài trợ của UNESCO, được thực hiện trong năm 2026.

Các đại biểu tham dự hội thảo

Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Trần Văn Trà (Phó Viện trưởng IMHEM) cho biết, trong những năm gần đây, thiên tai tại Việt Nam tiếp tục diễn biến phức tạp. Mưa lớn, lũ, lũ quét và sạt lở đất xảy ra với những diễn biến khó lường, gây thiệt hại về người, tài sản, cơ sở hạ tầng và sinh kế của người dân. Khu vực miền núi phía Bắc là một trong những khu vực chịu tác động rõ nét, do địa hình dốc, mạng lưới sông suối phức tạp, dân cư phân tán và mức độ dễ bị tổn thương cao. Cao Bằng cũng là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng của các loại hình thiên tai này. Trong bối cảnh đó, nâng cao năng lực phòng ngừa và cảnh báo sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

TS. Trần Văn Trà phát biểu khai mạc hội thảo

Tuy nhiên, khi nói đến cảnh báo sớm, chúng ta không nên chỉ nhìn vào câu hỏi “dự báo có chính xác hay không”. Một hệ thống cảnh báo chỉ thực sự hiệu quả khi thông tin được tạo ra đủ sớm, truyền đến đúng nơi, đến đúng đối tượng, được người dân và chính quyền hiểu đúng, và quan trọng nhất là có thể chuyển hóa thành hành động ứng phó kịp thời.

Theo TS. Trần Văn Trà, đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn. Cụ thể, về khoa học, nhiệm vụ giúp chúng ta có một cách nhìn tổng thể hơn về hệ thống cảnh báo, từ theo dõi, dự báo đến truyền tin và hỗ trợ ứng phó. Về thực tiễn, quan trọng hơn, kết quả đánh giá giúp chúng ta nhận diện rõ hơn những khâu đang hoạt động hiệu quả, những khâu còn hạn chế và những điểm nghẽn cần được ưu tiên giải quyết.

Bà Trần Lan Hương, Trưởng Ban khoa học, UNESCO tại Việt Nam phát biểu tại hội thảo

Đánh giá khoa học về hệ thống cảnh báo sớm đối với lũ, lũ quét và sạt lở đất tại tỉnh Cao Bằng

Tại hội thảo, TS. Ngô Thị Thủy đã trình bày về “Đánh giá khoa học về hệ thống cảnh báo sớm đối với lũ, lũ quét và sạt lở đất tại tỉnh Cao Bằng”. Trong đó, TS. Thủy tập trung đánh giá toàn diện các đặc điểm khí tượng, thủy văn, địa hình, địa mạo và hiện trạng hệ thống cảnh báo sớm trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh, kết hợp rà soát tài liệu, điều tra thực địa, phân tích số liệu và mô hình hóa nhằm nhận diện cơ chế hình thành thiên tai, các điểm nghẽn và khoảng trống trong công tác cảnh báo, ứng phó.

Nghiên cứu cho thấy Cao Bằng có địa hình núi cao, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phức tạp, khiến thời gian tập trung dòng chảy ngắn và nguy cơ lũ quét, sạt lở đất gia tăng khi mưa lớn kéo dài. Trên sông Bằng Giang, lũ có đặc điểm lên nhanh, rút chậm và có thể xuất hiện lũ kép; trong khi sông Gâm chịu tác động đáng kể của dòng chảy thượng nguồn, làm gia tăng nguy cơ lũ lớn và ngập sâu tại vùng hạ lưu. Đặc biệt, trận lũ ngày 7/10/2025 tại trạm Cao Bằng đạt mực nước 185,79 m, cao hơn khoảng 0,95 m so với kỷ lục lịch sử năm 1986.

TS. Ngô Thị Thủy trình bày tại hội thảo

Một trong những khoảng trống nổi bật được xác định là mạng lưới quan trắc còn hạn chế, dữ liệu chưa liên thông, thiếu thông tin về dòng chảy và vận hành hồ chứa thượng lưu; hệ thống truyền tin chủ yếu mới dừng ở chuyển tiếp thông tin, chưa được chi tiết hóa đầy đủ theo khu vực và chưa gắn chặt cảnh báo với phương án hành động. Nghiên cứu vì vậy đề xuất ưu tiên xây dựng hệ thống cảnh báo sớm chuyên biệt cho Cao Bằng, mở rộng mạng lưới quan trắc, cập nhật bản đồ nguy cơ, hoàn thiện quy trình ứng phó theo từng cấp chính quyền và tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa Trung ương, địa phương và các khu vực thượng – hạ lưu.

Tại hội thảo, các chuyên gia và đại biểu đánh giá cao tính khoa học cùng những nỗ lực nghiên cứu bước đầu trong việc đánh giá tổng thể hệ thống cảnh báo sớm lũ, lũ quét và sạt lở đất tại Công viên địa chất toàn cầu Cao Bằng. Các báo cáo đã nhận diện rõ đặc thù thiên tai địa phương, nhất là đợt lũ lịch sử vượt mức năm 1986 gần 1 mét vào năm 2025 và diễn biến ngập lụt kéo dài tại vùng núi đá vôi. Đồng thời, các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn cốt lõi hiện nay, bao gồm: sự thiếu hụt trạm quan trắc mực nước thượng nguồn, sóng liên lạc yếu tại vùng nguy cơ, độ phân giải radar chưa đáp ứng việc dự báo mưa lớn cục bộ, và việc thiếu hụt dữ liệu chia sẻ liên lưu vực. Ngoài ra, hội thảo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu bổ sung yếu tố tác động từ hoạt động sử dụng đất cùng sự ảnh hưởng từ vận hành hệ thống thủy điện vừa và nhỏ tới diễn biến dòng chảy.

Giải pháp ưu tiên và lộ trình nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm, truyền tin, phối hợp liên ngành và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai tại tỉnh Cao Bằng

Bài trình bày “Giải pháp ưu tiên và lộ trình nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm, truyền tin, phối hợp liên ngành và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai tại tỉnh Cao Bằng” tập trung chuyển hóa các kết quả đánh giá thành nhóm giải pháp có thể triển khai theo từng giai đoạn. Khung giải pháp được xây dựng theo hướng tăng cường liên kết dữ liệu, quản trị rủi ro theo lưu vực và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng.

Một định hướng trọng tâm là chuyển từ cảnh báo thiên tai đơn thuần sang cảnh báo đa thiên tai dựa trên tác động, kết hợp giữa hiểm họa, mức độ phơi bày và khả năng ứng phó. Hệ thống cảnh báo cần sử dụng đồng thời các ngưỡng mưa 3 giờ, 6 giờ và lượng mưa tích lũy 24–72 giờ, kết hợp trạng thái ẩm của lưu vực; đồng thời chi tiết hóa cảnh báo tới xã, phường và các khu dân cư có nguy cơ. Việc bổ sung các trạm đo mưa, mực nước và lưu lượng, đặc biệt ở khu vực thượng lưu, được xác định là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng cảnh báo.

Thạc sĩ Trần Đức Thiện trình bày tại hội thảo

Đối với truyền tin, giải pháp được đề xuất là chuẩn hóa thông tin theo ba thành tố khu vực – thời điểm – hành động, kết hợp nhiều kênh như loa truyền thanh, tin nhắn, Zalo và cảnh báo trực tiếp. Hệ thống cũng cần có phương án dự phòng khi mất điện, mất sóng hoặc địa bàn bị chia cắt; đồng thời tổ chức diễn tập và thiết lập cơ chế xác nhận tiếp nhận, phản hồi hai chiều giữa cơ quan cảnh báo và cộng đồng.

Về phối hợp, nghiên cứu đề xuất tổ chức theo logic lưu vực, làm rõ đầu mối và trách nhiệm của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh, cơ quan quản lý tài nguyên nước, Ban Phòng thủ dân sự, đơn vị vận hành hồ chứa và các cơ quan Trung ương. Cơ chế phối hợp cần bảo đảm thông tin hai chiều, thống nhất ngưỡng kích hoạt, trực ban và phương án sơ tán, đồng thời tăng cường chia sẻ dữ liệu thượng – hạ lưu và xuyên biên giới.

TS. Trần Văn Trà chủ trì hội thảo

Lộ trình được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn 2026–2027 ưu tiên bảo vệ dân cư vùng nguy cơ cao, hoàn thiện quy trình truyền tin, cập nhật bản đồ, xây dựng mạng lưới quan trắc và tăng cường phối hợp vận hành. Giai đoạn 2028–2030 tập trung hiện đại hóa hạ tầng, kết nối cơ sở dữ liệu thời gian thực, ứng dụng công nghệ mới, quản lý xây dựng tại vùng nguy cơ và lồng ghép phòng, chống thiên tai vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Sau năm 2030, định hướng là phát triển hạ tầng xanh, quản trị rủi ro theo lưu vực, tăng cường chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới và bảo đảm nguồn lực tài chính để duy trì bền vững hệ thống cảnh báo sớm.

Thông qua các kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp, nhiệm vụ hướng tới cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để tỉnh Cao Bằng từng bước hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao năng lực ra quyết định và ứng phó tại cơ sở, qua đó giảm mức độ phơi bày của người dân, hạn chế gián đoạn hạ tầng và giảm thiểu thiệt hại do lũ, lũ quét và sạt lở đất. Các chỉ số theo dõi được đề xuất tập trung vào thời gian và độ tin cậy của cảnh báo, tỷ lệ cộng đồng tiếp nhận thông tin, thời gian chuyển từ cảnh báo sang quyết định ứng phó và mức giảm rủi ro.

Các chuyên gia phát biểu tại hội thảo

Định hướng giải pháp thời gian tới, các đại biểu thống nhất ưu tiên các phương án khẩn cấp như: nâng cao năng lực ứng phó cấp xã, tăng cường trạm đo mưa tự động, và ứng dụng biểu mẫu tính toán sẵn để địa phương dễ dàng xuất bản đồ ngập lụt khi có mưa lớn. Đáng chú ý, các chuyên gia đề xuất cần đưa công nghệ Trí tuệ nhân tạo (AI) vào lộ trình trung và dài hạn để tối ưu hóa dự báo và tích hợp dữ liệu vào Trung tâm Điều hành thông minh (IOC) của tỉnh. Để đề xuất mang tính khả thi cao, đại diện UNESCO và các cơ quan chuyên môn kiến nghị nhóm nghiên cứu cần chuẩn hóa thuật ngữ, xây dựng ma trận lộ trình (Roadmap) chi tiết, căn chỉnh mốc thời gian phù hợp với chính sách quốc gia, đồng thời cân đối nguồn lực vận hành thực tế nhằm đảm bảo tính bền vững cho hệ thống cảnh báo sớm sau khi dự án hoàn thành.

Quang cảnh hội thảo

Với tinh thần khoa học, thẳng thắn, cởi mở và xây dựng, các chuyên gia tham dự hội thảo không chỉ chia sẻ những kết quả đạt được, mà còn cùng nhau chỉ ra những hạn chế và tìm kiếm những giải pháp có khả năng tạo ra chuyển biến thực chất để tiếp tục hoàn thiện các khuyến nghị của nhiệm vụ.