Kịch bản biến đổi khí hậu 2025: Những vấn đề nổi bật đối với miền Trung và Tây Nguyên

Kịch bản Biến đổi khí hậu (BĐKH) cho Việt Nam, phiên bản năm 2025 cung cấp nhiều thông tin chi tiết hơn về sự thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, nắng nóng, hạn hán và các hiện tượng cực đoan tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Các kết quả cho thấy khu vực này cần đặc biệt quan tâm đến sự gia tăng nắng nóng, biến động lượng mưa theo mùa, hạn hán và những thay đổi của mưa cực đoan trong bối cảnh khí hậu tiếp tục ấm lên.

Các đại biểu chụp ảnh tại hội thảo

Sáng ngày 15/10/2026 tại Thành phố Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội thảo công bố kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, phiên bản năm 2025 với sự tham dự của đại biểu đến từ các cơ quan, trường đại học, Viện nghiên cứu khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Mai Kim Liên, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu cho rằng, để Kịch bản biến đổi khí hậu, phiên bản cập nhật năm 2025 đóng góp nhiều hơn nữa trong quá trình xây dựng, cập nhật chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển trong giai đoạn tới cũng như có giá trị phục vụ các hoạt động nghiên cứu, đào tạo có liên  quan, đồng thời, góp phần thực hiện thành công Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Quyết định số 1422/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật), và Quyết định số 896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, trong thời gian tới, kiến nghị các Sở, ngành nghiên cứu, khai thác hiệu quả các thông tin từ Kịch bản để lồng ghép vào các quy hoạch, kế hoạch và các chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu; các viện nghiên cứu, trường đại học phối hợp chặt chẽ với Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn Môi trường và Biển trong công tác truyền thông, phổ biến thông tin về Kịch bản đến rộng rãi cộng đồng.

TS. Mai Kim Liên phát biểu khai mạc hội thảo

Đồng thời, TS. Mai Kim Liên cũng hy vọng thông qua hội thảo tại Đà Nẵng, các nhà lãnh đạo, nhà khoa học và những người hoạt động trong lĩnh vực ứng phó với BĐKH sẽ có cơ hội để trao đổi, chia sẻ cùng với các chuyên gia về tình hình BĐKH, kịch bản BĐKH và nước biển dâng, công tác ứng phó với BĐKH để cùng nhau nhìn nhận rõ về tình hình BĐKH ở Việt Nam, từ đó thực hiện tốt hơn nữa công tác ứng phó với BĐKH, gắn kết chặt chẽ với khoa học thế giới và tham mưu cho Chính phủ, xác định các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong tất cả các lĩnh vực trong thời gian tới.

PGS. TS. Phạm Thị Thanh Ngà chủ trì hội thảo

Đồng chủ trì hội thảo, PGS. TS. Phạm Thị Thanh Ngà đã nhấn mạnh kịch bản BĐKH không phải là dự báo, Kịch bản là giả định có cơ sở khoa học và có độ tin cậy về xu hướng khí hậu thay đổi trong tương lai dựa trên mối quan hệ của phát triển KTXH, biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do đó, người dùng cần lựa chọn và sử dụng kịch bản một cách linh hoạt, phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương và mục đích lập kế hoạch ứng phó, tránh việc áp dụng cứng nhắc hoặc hiểu lầm đây là một dự báo tuyệt đối.

Tại hội thảo, các đại biểu đã nghe trình bày về nội dung: Điểm mới trong kịch bản 2025 so với kịch bản 2020; Kịch bản BĐKH cho Việt Nam; Kịch bản nước biển dâng và nguy cơ ngập; Kịch bản BĐKH đô thị và tác động đến các ngành, lĩnh vực; Hướng dẫn khai thác và sử dụng Kịch bản BĐKH cho Việt Nam. Theo đó, với miền Trung và Tây nguyên, Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản năm 2025 tập trung vào các điểm nổi bật sau:

Nắng nóng gia tăng mạnh, đặc biệt tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ

Một trong những tín hiệu đáng chú ý nhất đối với khu vực miền Trung và Tây Nguyên là sự gia tăng của các cực đoan nhiệt.

Theo Kịch bản BĐKH năm 2025, số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt có xu thế tăng rõ rệt, đặc biệt trong nửa sau thế kỷ XXI. Với kịch bản cao, đến cuối thế kỷ, số ngày nắng nóng trên toàn quốc có thể tăng trên 50 ngày và số ngày nắng nóng gay gắt khoảng 20 ngày. Đáng chú ý, Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ là những khu vực được dự tính có mức gia tăng nổi bật.

Nếu xét theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu, khi mức nóng lên đạt 3–4°C, số ngày nắng nóng có thể tăng 30–50 ngày và vượt 50 ngày/năm tại nhiều khu vực Trung Bộ và Nam Bộ.

TS. Trần Thanh Thủy trình bày tại hội thảo

Lượng mưa biến động mạnh theo mùa

Lượng mưa năm không thể hiện một xu thế tăng hoặc giảm thống nhất trên toàn quốc; thay vào đó, có sự thay đổi phân hóa mạnh theo không gian và mùa.

Đối với Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ, mùa xuân là giai đoạn đáng lưu ý. Lượng mưa mùa xuân tại khu vực này được dự tính có thể giảm khoảng 20–30% so với thời kỳ cơ sở. Trong khi đó, vào mùa đông, lượng mưa có xu thế gia tăng trên phần lớn lãnh thổ Việt Nam, với mức tăng phổ biến 20–60%, ngoại trừ khu vực Tây Bắc.

Sự phân hóa theo mùa có ý nghĩa đặc biệt đối với khu vực miền Trung và Tây Nguyên, nơi sản xuất nông nghiệp và quản lý nguồn nước phụ thuộc lớn vào phân bố lượng mưa trong năm. Vì vậy, việc chỉ xem xét lượng mưa trung bình năm có thể chưa phản ánh đầy đủ những thay đổi về điều kiện cấp nước và nguy cơ hạn hán.

TS. Trương Bá Kiên trình bày tại hội thảo

Hạn hán là một trong những rủi ro cần đặc biệt quan tâm

Kịch bản 2025 dự tính cực đoan hạn hán gia tăng cả về tần suất và cường độ. Số tháng hạn có thể tăng 20–40% tại Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ; cường độ hạn có thể tăng trên 50% tại một số khu vực Bắc Trung Bộ. theo kịch bản cao.

Đây là một trong những điểm đáng chú ý nhất đối với khu vực, bởi tác động của hạn hán không chỉ giới hạn ở thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp mà còn liên quan đến cấp nước sinh hoạt, nhu cầu tưới, hệ thống hồ chứa, thủy điện và khả năng chống chịu của các hệ sinh thái.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Kịch bản BĐKH là cơ sở để đánh giá rủi ro chứ không phải dự báo một đợt hạn cụ thể. Việc đánh giá tác động thực tế cần kết hợp thông tin khí hậu với điều kiện nguồn nước, địa hình, sử dụng đất, hệ thống hồ chứa và đặc điểm kinh tế – xã hội của từng địa phương.

TS. Nguyễn Hữu Quyền trình bày tại hội thảo

Mưa cực đoan có xu thế gia tăng

Bên cạnh nguy cơ hạn, khu vực miền Trung và Tây Nguyên đồng thời phải đối mặt với sự gia tăng của các trận mưa cực đoan.

Theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu, lượng mưa lớn nhất trong một ngày và năm ngày có xu thế tăng đáng kể tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ, rõ rệt hơn khi mức nóng lên toàn cầu đạt 3–4°C.

Hạn hán và mưa cực đoan trong tương lai có thể cùng gia tăng, nhưng diễn ra ở những thời kỳ và giai đoạn khác nhau. Do đó, bài toán thích ứng không thể chỉ tập trung vào một loại thiên tai đơn lẻ mà cần tiếp cận tổng hợp đối với quản lý nước, sản xuất và phòng chống thiên tai.

Nước biển dâng và sự khác biệt giữa ven biển và nội địa

Đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển dâng trung bình toàn dải ven biển Việt Nam theo kịch bản cao khoảng 61,9 cm, với cận trên khoảng 82,0 cm. Mức dâng có sự phân hóa theo không gian, tăng dần từ Bắc vào Nam.

TS. Lê Quốc Huy trình bày tại hội thảo

Đối với dải ven biển khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, tỷ lệ diện tích có nguy cơ ngập do nước biển dâng được tính toán ở mức thấp hơn đáng kể so với Đồng bằng sông Cửu Long. Vào cuối thế kỷ XXI, tỷ lệ này đối với Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là 0,09% theo kịch bản trung bình và 0,13% theo kịch bản cao.

Tuy nhiên, những con số này không đồng nghĩa với việc toàn bộ khu vực miền Trung và Tây Nguyên có mức rủi ro thấp. Nguy cơ khí hậu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như mưa cực đoan, lũ, hạn hán, địa hình, hệ thống sông và điều kiện hạ tầng.

Kịch bản theo ngưỡng nóng lên toàn cầu

Một điểm mới có giá trị đối với miền Trung và Tây Nguyên là thông tin về các cực đoan khí hậu theo ngưỡng nóng lên toàn cầu. Đây là cách tiếp cận hữu ích để xây dựng các phương án thích ứng theo mức độ rủi ro thay vì chỉ gắn với một mốc thời gian cố định.

Khi nhiệt độ toàn cầu tăng từ 1,5°C lên 4°C, nhiệt độ cực trị, số ngày nắng nóng và lượng mưa cực đoan đều có xu thế thay đổi mạnh hơn. Đối với khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ, mức gia tăng của mưa cực đoan trở nên rõ hơn tại các ngưỡng nóng lên cao.

TS. Nguyễn Thanh Bằng trình bày tại hội thảo

Cách tiếp cận này có thể hỗ trợ các địa phương xác định những “ngưỡng hành động” trong quy hoạch và quản lý rủi ro: từ các giải pháp mềm như điều chỉnh mùa vụ, quản lý nước và chuyển đổi sinh kế đến các giải pháp đầu tư hạ tầng khi mức độ rủi ro tăng lên.

KBBĐKH đối với quy hoạch và phát triển khu vực

Những kết quả của Kịch bản BĐKH 2025 cho thấy miền Trung và Tây Nguyên cần được tiếp cận như một không gian có mức độ phân hóa khí hậu rất cao. Nắng nóng và hạn hán nổi bật ở nhiều khu vực, trong khi mưa cực đoan vẫn có xu thế gia tăng; vùng ven biển chịu thêm áp lực từ nước biển dâng.

Do đó, việc sử dụng Kịch bản trong khu vực cần được gắn với các vấn đề cụ thể như bảo đảm an ninh nguồn nước, quản lý hồ chứa, sản xuất nông nghiệp, phát triển đô thị, giao thông, phòng chống lũ và hạn hán, cũng như bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương.

Kịch bản BĐKH 2025 khuyến nghị các Bộ, ngành và địa phương lồng ghép thông tin khí hậu vào đánh giá rủi ro, quy hoạch, đầu tư và xây dựng giải pháp thích ứng; đồng thời xem xét các tình huống khí hậu cực đoan, bất lợi trong quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch và dự án.

Toàn cảnh hội thảo

Đối với miền Trung và Tây Nguyên, giá trị quan trọng nhất của Kịch bản không nằm ở việc đưa ra một “con số duy nhất” về khí hậu tương lai, mà ở việc cung cấp một cơ sở khoa học để nhận diện sự thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, hạn hán và các cực đoan khí hậu theo nhiều điều kiện khác nhau. Trên cơ sở đó, các địa phương có thể chủ động hơn trong xây dựng phương án thích ứng phù hợp với đặc điểm riêng của từng khu vực.

Những con số đáng chú ý

– 20–30%: mức giảm lượng mưa mùa xuân được nêu trong Kịch bản 2025 đối với Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ.

– 20–40%: mức gia tăng số tháng hạn hán tại miền Trung và Tây Nguyên theo kết quả kịch bản.

– 80–100%: mức gia tăng số ngày có lượng mưa trên 100 mm/ngày tại một số khu vực theo kịch bản cao.

– 30–50 ngày: mức tăng số ngày nắng nóng ở các mức nóng lên 3–4°C so với mức thấp hơn, tùy khu vực.

–  1,5°C – 2°C – 3°C – 4°C: các ngưỡng nóng lên toàn cầu được sử dụng để đánh giá sự thay đổi khí hậu và rủi ro.